Điều 19. Đền bù thiệt hại về hoa màu, vật nuôi :
1- Mức đền bù đối với cây hàng năm trên đất thu hoạch một vụ được tính bằng giá trị sản lượng thu hoạch một năm theo năng suất bình quân của 3 năm trước đó với mức giá quy định tại phụ lục số 3 kèm theo bản Quy định này. Đối với cây hàng năm trên đất, thu hoạch nhiều vụ trong một năm thì được đền bù tối đa ba vụ;
Đối với con vật nuôi (trong nuôi trồng thủy sản) không tính đền bù. Hội đồng đền bù giải phóng mặt bằng, các ban quản lý dự án, các chủ dự án thông báo trước cho người bị giải tỏa ít nhất là ba (3) tháng để thu hoạch sản phẩm.
2- Mức đền bù đối với cây lâu năm trồng xen kẽ trong vườn nhà, mật độ cây trồng không vượt quá quy trình kỹ thuật quy định của Nhà nước, áp dụng mức giá quy định tại phụ lục số 3 kèm theo bản Quy định này; Những cây trồng dày, vượt quá mật độ quy định thì xử lý đền bù như sau :
a) Đối với cây ăn quả
- Cây trồng lâu năm đã có quả đền bù theo số lượng thực tế;
- Cây chiết cành và cây chưa có quả đền bù theo giá cây con, cây giống;
3- Giao Sở Tài chính -vật giá phối hợp với Sở Thủy sản nông lâm thống kê lại các định mức trồng cây do Nhà nước đã ban hành, và quy định định mức trồng cây đối với loại cây chưa có định mức Nhà nước để trình UBND thành phố ban hành làm cơ sở đền bù.
4- Đối với những vườn cây trồng cây chuyên canh hoặc rừng trồng, chủ dự án phối hợp với Sở Tài chính - Vật giá, Sở Thủy sản – Nông lâm căn cứ định mức kinh tế - kỹ thuật do Nhà nước quy định và giá trị thực tế từng loại cây tính toán cụ thể giá trị đền bù trình Chủ tịch UBND thành phố quyết định theo nguyên tắc :
a) Nếu cây trồng đang ở thời kỳ kiến thiết cơ bản hoặc mới bắt đầu vụ thu hoạch đầu tiên thì đền bù toàn bộ chi phí ban đầu, chăm sóc đến thời điểm thu hồi đất;
b) Nếu cây đang ở thời kỳ thu hoạch thì đền bù theo giá trị còn lại của vườn cây. Giá trị còn lại của vườn cây bằng giá trị đầu tư ban đầu cộng chi phí chăm sóc đến vụ tiêu hoạch đầu tiên trừ phần khấu hao. Trong trường hợp không xác định được giá trị còn lại của vườn cây thì mức đền bù tối đa bằng hai năm sản lượng tính theo sản lượng bình quân của ba năm trước đó theo giá của sản phẩm cùng loại ở thị trường Đà Nẵng tại thời điểm đền bù;
c) Nếu là loại cây lâu năm thu hoạch một lần thì đền bù toàn bộ chi phí đầu tư ban đầu và chi phí chăm sóc tính đến thời điểm thu hồi đất;
d) Nếu là cây lâu năm đến thời hạn thanh lý, cây lấy gỗ đến thời kỳ thu hoạch thi chỉ đền bù chi phí cho việc chặt hạ.
Riêng đối với rừng cây bạch đàn, phi lao, quế đền bù theo quy định tại phụ lục số 30 kèm theo Bản quy định này là phương pháp tính đền bù như sau :
Chu kỳ bạch đàn, phi lao là 5 năm, quế có chu kỳ là 10 năm. Như vậy trong thời kỳ kiến thiết cơ bản cây trồng đến năm nào thì cộng chi phí đầu tư đến năm đó để tính toán giá trị đền bù.
Cơ sở để xác định năm trồng cây căn cứ vào Hợp đồng giao đất trồng rừng. Hợp đồng giao khoán để xác định cây trồng đến năm thứ mấy của chu kỳ. Trường hợp không xác định được năm trồng cây thì Hội đồng đền bù thiệt hại giải phóng mặt bằng mời Sở Thuỷ sản - nông lâm tham gia để xác định cụ thể làm căn cứ tính toán giá trị đền bù.
Đối với bạch đàn, phi lao trồng đến năm thứ 5 thì chỉ đền bù chi phí chặt hạ bằng 15% giá trị đền bù đầu tư đến năm thứ 4.
Đối với cây quế trồng đến năm thứ 10 thì chỉ đền bù chi phí chặt hạ bằng 20% giá trị đền bù đầu tư đến năm thứ 10.