Điều 13. Quy trình tự kiểm tra và xử lý văn bản khi nhận được thông báo hoặc yêu cầu, kiến nghị
1. Khi nhận được thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản hoặc yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các phương tiện thông tin đại chúng về văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ban hành có dấu hiệu trái pháp luật hoặc không còn phù hợp; Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã giao nhiệm vụ cho cơ quan, đơn vị đã tham mưu trình văn bản đó thực hiện việc tự kiểm tra và gửi Báo cáo kết quả tự kiểm tra cho Sở Tư pháp, Ban pháp chế Hội đồng nhân dân, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã để lấy ý kiến.
2. Sở Tư pháp, Ban pháp chế Hội đồng nhân dân, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã thực hiện việc tự kiểm tra độc lập, trả lời cơ quan, đơn vị tham mưu trình văn bản.
3. Cơ quan, đơn vị tham mưu trình văn bản lập hồ sơ tự kiểm tra văn bản báo cáo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã. Hồ sơ bao gồm:
a) Phiếu kiểm tra văn bản có dấu hiệu trái pháp luật;
b) Văn bản được kiểm tra;
c) Văn bản quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý để kiểm tra;
d) Báo cáo kết quả tự kiểm tra văn bản theo quy định tại khoản 6 Điều 12 của Quy định này;
đ) Ý kiến của Sở Tư pháp, Ban pháp chế Hội đồng nhân dân, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật.
4. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã xem xét, kết luận và xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật (nếu có). Cơ quan, đơn vị tham mưu trình văn bản dự thảo, trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện, cấp xã ký văn bản thông báo kết quả xử lý văn bản gửi cho cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân và các phương tiện thông tin đại chúng đã thông báo, yêu cầu, kiến nghị; đồng thời gửi Sở Tư pháp, Ban pháp chế Hội đồng nhân dân, Phòng Tư pháp, công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã để tổng hợp, theo dõi.
5. Thời hạn tự kiểm tra và xử lý văn bản theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và khoản 4 Điều này là 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra văn bản hoặc nhận được yêu cầu, kiến nghị của cơ quan, tổ chức, cá nhân và các phương tiện thông tin đại chúng.