vanban.org

Điều 9. Soạn thảo, in ấn, phát hành và sao chụp tài liệu mật — Quyết định 163/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/07/2021 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 15/07/2021 Thay thế: 26/2021/QĐ-UBND · 01/07/2021
Bắc Giang Ban hành 29/04/2011 Hiệu lực 09/05/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 26/2021/QĐ-UBND Ban hành Quy chế bảo vệ bí mật nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Giang · 26/2021/QĐ-UBND
Quyết định số 163/2011/QĐ-UBND Ban hành Quy chế Bảo vệ bí mật nhà nước tỉnh Bắc Giang · 163/2011/QĐ-UBND
15/07/202126/2021/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 09/05/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 163/2011/QĐ-UBND › Chương II › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9. Soạn thảo, in ấn, phát hành và sao chụp tài liệu mật

1. Việc soạn thảo, in ấn, sao chụp tài liệu, băng đĩa, thẻ nhớ, USB... mật phải được thực hiện ở nơi bảo đảm bí mật, an toàn do thủ trưởng cơ quan quy định; đồng thời ghi rõ họ tên của người soạn thảo, sao chụp, tên của vật lưu kèm theo và đóng dấu độ mật vào văn bản. Không được đánh máy hoặc in, sao chụp thừa số bản quy định. Bản sao tài liệu mật (sao y, sao lục, sao trích) phải được bảo quản như tài liệu mật gốc và đóng dấu độ mật theo văn bản gốc. Sau khi đánh máy, in ấn xong người soạn thảo phải kiểm tra lại và hủy ngay những bản in, sao chụp thừa, bị hỏng.

2. Khi soạn thảo văn bản có nội dung bí mật nhà nước, người soạn thảo căn cứ danh mục bí mật nhà nước đã được cấp có thấm quyền quyết định và quy định độ mật các tài liệu mật của đơn vị để đề xuất mức độ mật của tài liệu;  người có thẩm quyền ký duyệt quyết định độ mật và phạm vi ban hành tài liệu; bộ phận văn thư đóng dấu độ mật vào tài liệu trước khi phát hành.

3. Khi tổ chức lấy ý kiến xây dựng dự thảo văn bản có nội dung bí mật, thủ trưởng cơ quan chủ trì phải xác định cụ thể phạm vi, đối tượng các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cần xin ý kiến; phải đóng dấu xác định mức độ mật vào dự thảo. Cơ quan, tổ chức, cá nhân nhận phải thực hiện việc quản lý, sử dụng theo đúng chế độ tài liệu mật đã ghi trên dự thảo.