Điều 25. Tiêu hủy tài liệu mật
1. Việc tiêu hủy tài liệu, vật mang bí mật nhà nước khi không còn giá trị sử dụng, không cần lưu trữ do Thủ trưởng cơ quan, tổ chức quyết định, đồng thời phải báo cáo người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp trên quản lý trực tiếp.
2. Tiêu huỷ mật mã thực hiện theo quy định của Ban Cơ yếu Chính phủ.
3. Tiêu huỷ tài liệu mật thực hiện theo quy định sau:
a) Khi lãnh đạo có thẩm quyền phê duyệt, đơn vị trực tiếp quản lý tài liệu mật sẽ tiêu huỷ thành lập Hội đồng tiêu huỷ gồm: Người có thẩm quyền được quy định tại khoản 1 Điều này làm Chủ tịch Hội đồng; đại diện lãnh đạo đơn vị trực tiếp quản lý làm Phó Chủ tịch Hội đồng; các ủy viên là đại diện cơ quan Văn phòng, bộ phận bảo mật, bộ phận lưu trữ tài liệu, cán bộ trực tiếp quản lý lưu giữ tài liệu và những người khác do Chủ tịch Hội đồng quyết định.
b) Hội đồng tiêu huỷ có nhiệm vụ: Lập kế hoạch tiêu huỷ, thống kê, phân loại đầy đủ từng loại tin, tài liệu, vật mang bí mật nhà nước, trong đó ghi rõ số văn bản, cơ quan ban hành, trích yếu, độ mật; phương thức, trình tự tiến hành, thời gian, địa điểm thực hiện, danh sách những người tham gia tiêu huỷ và lập biên bản việc tiêu huỷ.
c) Việc tổ chức tiêu huỷ phải đảm bảo an toàn, không tiết lộ, không lọt thông tin bí mật, đối với vật mang bí mật nhà nước như: băng, đĩa; thiết bị nhớ, thẻ nhớ; thiết bị điện tử, tin học phải làm thay đổi hình dạng, tính năng, tác dụng không để khôi phục lại được; với tài liệu phải đốt xén, nghiền nhỏ đảm bảo không thể ghép lại được.
d) Kết thúc việc tiêu huỷ phải lập biên bản, có chữ ký của tất cả thành viên Hội đồng. Biên bản được lưu tại bộ phận quản lý lưu giữ tài liệu và bộ phận bảo mật cơ quan.
4. Trường hợp đặc biệt, nếu tài liệu mật không được tiêu hủy ngay sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho an ninh, quốc phòng hoặc lợi ích khác của Nhà nước thì người đang quản lý tài liệu mật đó được tự tiêu hủy nhưng ngay sau đó phải báo cáo bằng văn bản với thủ trưởng đơn vị, cơ quan Công an cùng cấp.