Điều 8. Bảo vệ bí mật Nhà nước trong việc tiêu hủy tài liệu mật:
1. Việc tiêu hủy tài liệu nói chung và tài liệu mật nói riêng phải được thực hiện theo đúng quy định đã được nêu ở Điều 12 Chương II trong Nghị định số 111/2004/NĐ-CP ngày 08/04/2004 của Chính phủ.
2. Căn cứ vào quy định trên, Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có tài liệu mật liên quan đến lĩnh vực Thương mại có trách nhiệm xem xét, quyết định việc thanh lý hoặc tiêu hủy vãn bản, tài liệu mật trong phạm vi quản lý của mình.
3. Đối với văn bản, tài liệu thuộc Danh mục bí mật nhà nước không cần đưa vào lưu trữ Nhà nước thì Hội đồng lập danh mục và tờ trình báo cáo Bộ trưởng Bộ Thương mại, Thủ trưởng cơ quan có liên quan đến bí mật thuộc lĩnh vực Thương mại xem xét, quyết định việc thanh lý, tiêu hủy.
4. Khi Bộ trưởng Bộ Thương mại, hoặc Thủ trưởng cơ quan có liên quan đến bí mật nhà nước thuộc lĩnh vực Thương mại cho phép, Hội đồng tổ chức thực hiện việc thanh lý hoặc tiêu hủy văn bản, tài liệu mật, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ phải đảm bảo:
- Không tiết lộ, không để lọt tài liệu mật ra ngoài;
- Đối với tài liệu mật là văn bản in trên giấy phải đốt, xé, nghiền nhỏ tới mức không thể chắp, ghép lại được;
- Đối với tài liệu mật là vật mang bí mật nhà nước (băng, đĩa đã ghi âm, ghi hình, phim đã chụp ảnh...) phải làm thay đổi toàn bộ hình dạng và tính năng tác dụng để không còn khai thác, sử dụng được;
- Lập biên bản thống kê đầy đủ danh mục tài liệu mật thuộc lĩnh vực Thương mại đã thanh lý, tiêu hủy, trong đó phải ghi rõ số công văn, số bản, trích yếu tài liệu. Nội dung biên bản phải phản ánh phương thức, trình tự tiến hành và người thực hiện thanh lý, tiêu hủy văn bản, tài liệu, vật mang tin theo đúng quy định của pháp luật. Biên bản phải có dầy đủ chữ ký của các thành viên tham gia thanh lý, tiêu hủy.