vanban.org

Điều 19. Bảo hành, bảo trì công trình xây dựng — Quyết định 15/2016/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/09/2022 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 01/09/2022 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 25/2022/QĐ-UBND · 23/08/2022 Sửa đổi, bổ sung: 01/2020/QĐ-UBND · 04/02/2020
Hà Nam Ban hành 18/05/2016 Hiệu lực 28/05/2016 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 13 năm
Quyết định số 15/2016/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định quản lý quy hoạch, đầu tư, khai thác khu đô thị trên địa bàn tỉnh Hà Nam · 15/2016/QĐ-UBND
01/09/202225/2022/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 15/02/202001/2020/QĐ-UBNDSửa đổi 28/05/2016Bản gốcThay thế
Quyết định số 25/2012/QĐ-UBND Ban hành “Quy định lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án đầu tư xây dựng khu đô thị mới, khu nhà ở trên địa bàn tỉnh Hà Nam” · 25/2012/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 15/2016/QĐ-UBND › Chương IV › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19. Bảo hành, bảo trì công trình xây dựng

1. Bảo hành công trình được thực hiện theo quy định tại Điều 35 và Điều 36 Nghị định số 46/2015/NĐ-CP của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng, trong đó:

a) Chủ đầu tư phải thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng với các nhà thầu tham gia xây dựng công trình về quyền và trách nhiệm của các bên trong bảo hành công trình xây dựng; thời hạn bảo hành công trình xây dựng; thiết bị công trình; mức tiền bảo hành; việc lưu giữ, sử dụng, hoàn trả tiền bảo hành và việc thay thế tiền bảo hành công trình xây dựng bằng thư bảo lãnh bảo hành của ngân hàng có giá trị tương đương. Nhà thầu chỉ được hoàn trả tiền bảo hành công trình hoặc giải tỏa thư bảo lãnh bảo hành sau khi kết thúc thời hạn bảo hành và được chủ đầu tư xác nhận đã hoàn thành công việc bảo hành;

b) Chủ đầu tư tổ chức thực hiện việc bảo hành công trình xây dựng; trong thời gian bảo hành công trình, chủ đầu tư phối hợp với chủ sở hữu hoặc người quản lý sử dụng công trình kiểm tra, phát hiện hư hỏng, khiếm khuyết của công trình để yêu cầu nhà thầu khắc phục, sửa chữa hoặc thay thế. Nhà thầu có quyền từ chối bảo hành trong các trường hợp hư hỏng, khiếm khuyết phát sinh không phải do lỗi của nhà thầu gây ra hoặc do nguyên nhân bất khả kháng;

Trường hợp hư hỏng, khiếm khuyết phát sinh do lỗi của nhà thầu mà nhà thầu không thực hiện bảo hành thì chủ đầu tư có quyền sử dụng tiền bảo hành để thuê tổ chức, cá nhân khác thực hiện bảo hành. Chủ đầu tư hoặc người quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm thực hiện theo đúng quy định về vận hành, bảo trì công trình xây dựng trong quá trình khai thác, sử dụng công trình.

2. Bảo trì công trình: Thực hiện theo quy định hiện hành về bảo trì công trình, trong đó, người có trách nhiệm bảo trì gồm:

a) Đối với công trình có một chủ sở hữu, chủ sở hữu công trình hoặc tổ chức, cá nhân được nhà nước giao quản lý, khai thác công trình có trách nhiệm bảo trì công trình. Riêng công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị, chủ đầu tư công trình có trách nhiệm bảo trì công trình cho đến khi bàn giao cho nhà nước quản lý;

b) Đối với công trình có nhiều chủ sở hữu, Chủ sở hữu phần riêng của công trình có trách nhiệm bảo trì phần sở hữu riêng của mình và đồng thời phải có trách nhiệm bảo trì phần sở hữu chung của công trình. Việc phân định trách nhiệm bảo trì phần sở hữu chung của công trình phải được các chủ sở hữu hoặc người được ủy quyền thỏa thuận cụ thể bằng văn bản hoặc trong hợp đồng mua, bán, thuê tài sản;

c) Đối với công trình chưa xác định chủ sở hữu thì người đang khai thác, sử dụng công trình có trách nhiệm bảo trì;

d) Người có trách nhiệm bảo trì phải tổ chức giám sát công tác quan trắc, kiểm định chất lượng, thi công, nghiệm thu công việc sửa chữa công trình, lập và quản lý, lưu giữ hồ sơ bảo trì công trình theo quy định của pháp luật về quản lý chất lượng công trình xây dựng và các quy định pháp luật khác có liên quan.