Điều 15. Ký kết văn kiện quốc tế
1. Việc ký kết các văn kiện quốc tế với các đối tác nước ngoài được thực hiện theo yêu cầu của công việc chuyên môn. Hình thức, nội dung và thẩm quyền ký kết các văn kiện phải tuân thủ theo Luật số 41/2005/QH11 ngày 14/6/2005 của Quốc Hội về ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế và Pháp lệnh số 33/2007/PL-UBTVQH11 ngày 20/4/2007 về ký kết và thực hiện thoả thuận quốc tế và các văn bản pháp lý của nhà nước.
2. Trách nhiệm của các đơn vị chuẩn bị cho việc ký kết văn kiện
2.1 Đơn vị chủ trì văn kiện ký kết:
a. Chịu trách nhiệm trước Bộ về hình thức, nội dung, thẩm quyền văn bản ký kết.
b. Chủ trì phối hợp với các đơn vị có liên quan hoàn tất các thủ tục pháp lý trong nước về việc ký kết văn bản (nếu có).
c. Chuẩn bị và dẫn chương trình lễ ký kết.
d. Chuẩn bị bài phát biểu của Trưởng đoàn (hoặc đại diện được uỷ quyền) của phía Việt Nam (nếu có).
đ. Chủ trì cung cấp thông tin cho báo chí (nếu cần thiết) về nội dung của lễ ký kết.
e. Bố trí phiên dịch cho lễ ký kết theo quy định tại Điều 16 của Quy chế này.
f. Tổ chức lưu trữ văn bản theo chế độ quy định.
2.2 Vụ Hợp Tác Quốc Tế
a. Phối hợp với các đơn vị chủ trì hoàn tất các thủ tục cần thiết trong nước cho việc tổ chức ký kết các văn kiện.
b. Phối hợp với Vụ TVQT và đơn vị chủ trì chuẩn bị các vấn đề lễ tân cho lễ ký kết đảm bảo tuân thủ đúng nghi lễ ngoại giao.
c. Bố trí phiên dịch cho các cuộc lãnh đạo Bộ trực tiếp ký văn kiện.
2.3 Vụ Tài vụ Quản trị
Chuẩn bị các điều kiện vật chất và hậu cần cho lễ ký kết.
2.4. Văn Phòng Bộ
Đưa tin về lễ ký kết trên các phương tiện thông tin trong hoặc ngoài ngành theo đề xuất của đơn vị chủ trì về nội dung.