vanban.org

Điều 7. Phân cấp q uản lý đầu tư xây dựng công trình cung cấp nước sạch nông thôn — Quyết định 14/2015/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 12/04/2015 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Quảng Ngãi Ban hành 02/04/2015 Hiệu lực 12/04/2015 Còn hiệu lực
Dòng đời phiên bản 3 đời quyết định · 5 phiên bản · 20 năm
Quyết định số 14/2015/QĐ-UBND Ban hành Quy chế về đầu tư - xây dựng và quản lý, khai thác, sử dụng, duy tu, bảo dưỡng các công trình cấp nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 14/2015/QĐ-UBND
12/04/2015Bản gốcThay thế Đang xem
Quyết định số 29/2010/QĐ-UBND Ban hành Quy chế quản lý đầu tư - xây dựng, khai thác, sử dụng các công trình nước sạch nông thôn trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi · 29/2010/QĐ-UBND
Quyết định số 132/2005/QĐ-UBND Về việc ban hành quy chế quản lí đầu tư –xây dựng, khai thác, sử dụng các công trình nước sinh hoạt nông thôn tỉnh Quảng Ngãi · 132/2005/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 14/2015/QĐ-UBND › Chương II › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. Phân cấp q uản lý đầu tư xây dựng công trình cung cấp nước sạch nông thôn

1. Công trình cung cấp nước sạch nông thôn được xây dựng bằng các nguồn vốn nêu tại Điều 1, Quy chế này đều phải tuân thủ theo quy hoạch, kế hoạch, dự án được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và các quy định của pháp luật về quản lý đầu tư và xây dựng công trình.

2. Đối với các dự án, công trình nước sạch nông thôn, có quy mô cung cấp nước sạch cho từ 500 hộ sử dụng trở lên, giao cho Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm chủ đầu tư hoặc tổ chức, cá nhân tài trợ chính cho công trình làm chủ đầu tư.

3. Đối với các dự án, công trình cấp nước sạch nông thôn, có quy mô cung cấp nước sạch cho dưới 500 hộ sử dụng, giao Uỷ ban nhân dân huyện làm chủ đầu tư hoặc tổ chức, cá nhân tài trợ chính cho công trình làm chủ đầu tư.

4. Đối với các công trình cấp nước sạch nông thôn nhỏ, lẻ (giếng đào, giếng khoan, bể chứa nước mưa) do vốn ngân sách Nhà nước đầu tư hoặc hỗ trợ một phần, giao cho Uỷ ban nhân dân xã nơi hưởng lợi công trình làm chủ đầu tư.