vanban.org

Điều 18. T rách nhiệm của các cơ quan, đơn vị — Quyết định 14/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 06/05/2011 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Yên Bái Ban hành 26/04/2011 Hiệu lực 06/05/2011 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 14/2011/QĐ-UBND › Chương III › Điều 18
Đọc toàn văn

Điều 18. T rách nhiệm của các cơ quan, đơn vị

Người đứng đầu các cơ quan, đơn vị trong phạm vi quản lý của mình có trách nhiệm:

1. Tổ chức thực hiện tốt công tác bảo vệ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật trong đơn vị mình quản lý; chịu trách nhiệm trước pháp luật và cấp có thẩm quyền về công tác bảo vệ bí mật nhà nước thuộc trách nhiệm đơn vị mình.

2. Xây dựng nội quy, quy chế về bảo vệ bí mật nhà nước hoặc bổ sung nội dung bảo vệ bí mật nhà nước vào quy chế, nội quy của đơn vị mình để thực hiện.

3. Căn cứ các Danh mục bí mật nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ và Bộ trưởng Bộ Công an quy định để ban hành văn bản xác định cụ thể độ mật (Tuyệt mật, Tối mật, Mật) của từng loại tài liệu, vật mang bí mật nhà nước của đơn vị mình để thực hiện.

4. Lựa chọn, bố trí cán bộ chuyên trách hoặc kiêm nhiệm có đủ phẩm chất, năng lực làm công tác bảo vệ bí mật nhà nước, giúp lãnh đạo theo dõi, kiểm tra việc thực hiện công tác bảo vệ bí mật nhà nước. Trước khi tuyển dụng hoặc chuyển công tác khác đối với cán bộ làm công tác liên quan trực tiếp đến bí mật nhà nước thì phải có sự trao đổi với cơ quan bảo vệ chính trị nội bộ cùng cấp để xem xét.

5. Giáo dục cán bộ, công chức, viên chức ý thức cảnh giác, quản lý, bảo vệ bí mật nhà nước; có biện pháp cụ thể quản lý cán bộ, nhất là cán bộ nắm giữ nhiều bí mật nhà nước, cán bộ thường xuyên đi công tác nước ngoài hoặc làm việc với cá nhân, tổ chức nước ngoài.

6. Đầu tư, xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ yêu cầu công tác bảo vệ bí mật nhà nước bằng nguồn kinh phí của cơ quan, đơn vị theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.

7. Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ báo cáo, sơ kết, tổng kết về công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong phạm vi quản lý của mình, cụ thể:

a) Báo cáo những vụ việc lộ, mất tài liệu, vật mang bí mật nhà nước xảy ra hoặc các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước, gây phương hại đến an ninh quốc gia hoặc lợi ích của nhà nước.

b) Báo cáo toàn diện về công tác bảo vệ bí mật nhà nước định kỳ mỗi năm một lần.

c) Chế độ báo cáo quy định như sau: Báo cáo của cơ quan, đơn vị nêu tại Điều 4 Quy chế này gửi cấp trên trực tiếp, đồng gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh và Công an tỉnh; báo cáo của các đơn vị trực thuộc các cơ quan, đơn vị nêu trên gửi thủ trưởng cơ quan, tổ chức, địa phương đó, đồng gửi cơ quan công an cùng cấp.

d) Uỷ ban nhân dân tỉnh tổ chức sơ kết công tác bảo vệ bí mật nhà nước mỗi năm một lần, 5 năm tổng kết một lần. Báo cáo sơ kết, báo cáo tổng kết gửi Thủ tướng Chính phủ, đồng gửi Tổng cục An ninh II-Bộ Công an.