vanban.org

Điều 4. Cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp thửa đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư được sử dụng từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004 — Quyết định 14/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 26/07/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 26/07/2015 Thay thế: 12/2015/QĐ-UBND · 16/07/2015 Sửa đổi, bổ sung: 18/2014/QĐ-UBND · 21/11/2014
Hưng Yên Ban hành 20/07/2011 Hiệu lực 30/07/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 9 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 27/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai ngày 18 tháng 01 năm 2024 và Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ · 27/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 12/2023/QĐ-UBND Ban hành Quy định về hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất ở; điều kiện tách thửa, hợp thửa và diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất; xử lý một số trường hợp cụ thể khi cấp, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên · 12/2023/QĐ-UBND
Quyết định số 12/2015/QĐ-UBND Ban hành Quy định một số trường hợp cụ thể khi cấp, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên · 12/2015/QĐ-UBND
Quyết định số 14/2011/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định một số trường hợp cụ thể về sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; về diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa trên địa bàn tỉnh Hưng Yên · 14/2011/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 14/2011/QĐ-UBND › Chương II › Mục 1 › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp thửa đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư được sử dụng từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004

1. Cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp đất ở có vườn, ao trong cùng thửa đất có nhà ở thuộc khu dân cư sử dụng từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày 01/7/2004 được thực hiện theo Khoản 3 Điều 87 Luật Đất đai năm 2003: Đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18/12/1980 đến trước ngày Luật Đất đai năm 2003 có hiệu lực thi hành và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 mà trong giấy tờ đó ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất có vườn, ao được xác định theo giấy tờ đó.

2. Trường hợp người đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các Khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai năm 2003 mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở thì diện tích đất có vườn, ao được xác định theo Khoản 4 Điều 87 Luật Đất đai năm 2003 như sau:

a) Trường hợp thửa đất có diện tích nhỏ hơn hạn mức công nhận đất ở do UBND tỉnh quy định về hạn mức giao đất ở và hạn mức công nhận đất ở trên địa bàn tỉnh thì toàn bộ diện tích thửa đất đó được công nhận là đất ở và không phải nộp tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận.

b) Trường hợp thửa đất có diện tích lớn hơn hạn mức công nhận đất ở thì diện tích đất ở được xác định bằng hạn mức công nhận đất ở do UBND tỉnh quy định về hạn mức giao đất ở và hạn mức công nhận đất ở trên địa bàn tỉnh và không phải nộp tiền sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận.

Phần diện tích còn lại (ngoài hạn mức công nhận đất ở) sau khi đã xác định đất ở thì xác định theo hiện trạng sử dụng đất và được quy định như sau: Đất phi nông nghiệp thời hạn sử dụng là lâu dài; đất trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản nước ngọt thời hạn sử dụng là 20 năm; đất trồng cây lâu năm thời hạn sử dụng là 50 năm tính từ ngày 15/10/1993 (nếu thửa đất được hình thành trước ngày 15/10/1993), tính từ ngày sử dụng đất (nếu thửa đất được hình thành từ ngày 15/10/1993 trở về sau) và không phải nộp tiền sử dụng đất. Khi hết thời hạn, người sử dụng đất được Nhà nước tiếp tục gia hạn nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng, chấp hành đúng pháp luật đất đai trong quá trình sử dụng và việc sử dụng đất phù hợp với quy hoạch đã được xét duyệt.