vanban.org

Điều 11. Cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp giao đất kh ô ng đ ú ng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 nhưng người đang sử dụng đất đ ã nộp tiền để được sử dụng đất — Quyết định 14/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 26/07/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 26/07/2015 Thay thế: 12/2015/QĐ-UBND · 16/07/2015 Sửa đổi, bổ sung: 18/2014/QĐ-UBND · 21/11/2014
Hưng Yên Ban hành 20/07/2011 Hiệu lực 30/07/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 9 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 27/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai ngày 18 tháng 01 năm 2024 và Nghị định số 102/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ · 27/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 12/2023/QĐ-UBND Ban hành Quy định về hạn mức giao đất ở, hạn mức công nhận đất ở; điều kiện tách thửa, hợp thửa và diện tích tối thiểu được phép tách thửa đối với các loại đất; xử lý một số trường hợp cụ thể khi cấp, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên · 12/2023/QĐ-UBND
Quyết định số 12/2015/QĐ-UBND Ban hành Quy định một số trường hợp cụ thể khi cấp, cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Hưng Yên · 12/2015/QĐ-UBND
Quyết định số 14/2011/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy định một số trường hợp cụ thể về sử dụng đất khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; về diện tích đất ở tối thiểu được phép tách thửa trên địa bàn tỉnh Hưng Yên · 14/2011/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 14/2011/QĐ-UBND › Chương II › Mục 3 › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp giao đất kh ô ng đ ú ng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 nhưng người đang sử dụng đất đ ã nộp tiền để được sử dụng đất

1. Việc cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 nhưng người đang sử dụng đất đã nộp tiền để được sử dụng đất thực hiện theo Điều 16 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, quy định như sau:

Đất được giao không đúng thẩm quyền nhưng người đang sử dụng đất có giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền cho cơ quan, tổ chức để được sử dụng đất trước ngày 01/7/2004, nay được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận theo quy định sau đây:

a) Trường hợp đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15/10/1993 thì được cấp Giấy chứng nhận đối với diện tích đất đã được giao và không phải nộp tiền sử dụng đất.

b) Trường hợp đất đã được sử dụng ổn định trong khoảng thời gian từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì thực hiện như sau:

- Đối với diện tích đất được giao thuộc nhóm đất nông nghiệp hoặc đất phi nông nghiệp nhưng không phải đất ở thì được cấp Giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất;

- Đối với diện tích đất được giao làm đất ở trong hạn mức giao đất ở quy định tại Khoản 2 Điều 83 và Khoản 5 Điều 84 của Luật Đất đai thì được cấp Giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất; đối với diện tích đất còn lại đã có nhà ở thì được cấp Giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP; đối với diện tích còn lại không có nhà ở được xác định là đất nông nghiệp theo hiện trạng sử dụng, nếu người sử dụng đất đề nghị được chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp thì được cấp Giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại Khoản 2 Điều 5 Nghị định số 17/2006/NĐ-CP.

2. UBND tỉnh quy định việc cấp Giấy chứng nhận đối với một số trường hợp cụ thể về giao đất không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 như sau:

a) Cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền cho hộ gia đình, cá nhân để sử dụng vào mục đích kinh doanh phi nông nghiệp thời hạn lâu dài.

Trường hợp đất đã được giao không đúng thẩm quyền để sử dụng vào mục đích kinh doanh phi nông nghiệp thời hạn lâu dài nhưng hộ gia đình, cá nhân có giấy tờ chứng minh về việc đã nộp tiền sử dụng đất để được sử dụng đất trước ngày 01/7/2004, nay được UBND cấp xã xác nhận là đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận theo quy định sau đây:

- Trường hợp đất được giao trước ngày 15/10/1993 và hộ gia đình, cá nhân đã xây dựng nhà ở thì được cấp Giấy chứng nhận và không phải nộp tiền sử dụng đất đối với phần diện tích đất ở nằm trong hạn mức giao đất ở mới do Ủy ban nhân dân tỉnh quy định.

Đối với diện tích đất còn lại đã có nhà ở thì được cấp Giấy chứng nhận và phải nộp mức chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất ở với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất kinh doanh phi nông nghiệp tại thời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ đề nghị cấp Giấy chứng nhận.

Phần diện tích còn lại sau khi đã xác định đất ở thì được xác định là đất phi nông nghiệp thời hạn sử dụng là lâu dài.

- Trường hợp đất được giao từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 và hộ gia đình, cá nhân đã chuyển sang làm nhà ở thì được cấp Giấy chứng nhận và phải nộp phần chênh lệch tiền sử dụng đất giữa giá đất ở và giá đất kinh doanh phi nông nghiệp tại thời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ đề nghị cấp Giấy chứng nhận.

b) Cấp Giấy chứng nhận trong trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền cho hộ gia đình, cá nhân đấu thầu dài hạn nộp tiền một lần.

Trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền cho hộ gia đình, cá nhân đấu thầu dài hạn nộp tiền một lần nhưng hộ gia đình đã tự chuyển sang làm nhà ở và được UBND cấp xã xác nhận là đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì người đang sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận theo quy định sau đây:

- Trường hợp đất được sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993 thì được công nhận theo hạn mức giao đất ở mới do UBND tỉnh quy định và không phải nộp tiền sử dụng đất tại thời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ đề nghị cấp Giấy chứng nhận; đối với diện tích đất còn lại đã có nhà ở thì được cấp Giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại Điểm a Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP tại thời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ.

Phần diện tích còn lại không có nhà thì được xác định là đất nông nghiệp theo hiện trạng sử dụng, nếu người sử dụng đất đề nghị được chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp (không phải là đất ở) thì được cấp Giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất bằng chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất phi nông nghiệp với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp.

- Trường hợp đất được sử dụng ổn định từ ngày 15/10/1993 đến trước ngày 01/7/2004 thì được công nhận theo hạn mức giao đất ở mới do UBND tỉnh quy định và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại điểm a Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP; đối với diện tích đất còn lại đã có nhà ở thì được cấp Giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất theo mức thu quy định tại Điểm b Khoản 3 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP tại thời điểm nộp đủ hồ sơ hợp lệ.

Phần diện tích còn lại không có nhà ở thì được xác định là đất nông nghiệp theo hiện trạng sử dụng, nếu người sử dụng đất đề nghị được chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp (không phải là đất ở) thì được cấp Giấy chứng nhận và phải nộp tiền sử dụng đất bằng chênh lệch giữa thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất phi nông nghiệp với thu tiền sử dụng đất tính theo giá đất nông nghiệp.

c) Trường hợp giao đất không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 cho nhân dân làm nhà ở, nhưng người sử dụng đất không có giấy tờ chứng minh việc đã nộp tiền để được sử dụng đất hoặc các trường hợp do thôn bán đất không đúng thẩm quyền trước ngày 01/7/2004 cho hộ gia đình, cá nhân làm nhà ở nay được UBND cấp xã xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch thì người đang sử dụng đất được xem xét cấp Giấy chứng nhận và xử lý theo quy định tại Điều 7 hoặc Điều 8 bản Quy định này.