vanban.org

Điều 19. Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trên hệ thống mạng TSLCD thành phố — Quyết định 13/2021/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 15/06/2021 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Hải Phòng Ban hành 31/05/2021 Hiệu lực 15/06/2021 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 13/2021/QĐ-UBND › Chương V › Điều 19
Đọc toàn văn

Điều 19. Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trên hệ thống mạng TSLCD thành phố

1. Trung tâm Thông tin và Truyền thông có trách nhiệm tổ chức, thực hiện và duy trì các biện pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin cho toàn bộ hệ thống mạng TSLCD thành phố thông qua Trung tâm Dữ liệu thành phố.

2. Thiết bị máy tính của các đơn vị tham gia mạng TSLCD thành phố (gọi tắt là máy trạm) khi tham gia mạng TSLCD thành phố phải tuân thủ quy tắc sau:

a) Máy trạm phải được cấp một địa chỉ IP tĩnh để tham gia mạng TSLCD; việc thiết lập hoặc thay đổi địa chỉ IP tĩnh phải do bộ phận, cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin của đơn vị thực hiện và quản lý bằng danh sách IP của đơn vị;

b) Máy trạm phải được cài đặt tối thiểu một chương trình chống virus do bộ phận, cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin của đơn vị thực hiện; khi phát hiện có dấu hiệu bị nhiễm virus cần phải thông báo ngay cho bộ phận, cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin để được hỗ trợ, xử lý, tránh để lây lan trong hệ thống;

c) Máy trạm khi tham gia hệ thống mạng TSLCD thành phố do các đơn vị tự chịu trách nhiệm quản lý, vận hành và bảo vệ theo quy định;

3. Các hệ thống phần mềm, cơ sở dữ liệu dùng chung, thông tin lưu trữ lưu chuyển trên mạng TSLCD thành phố phải được sao lưu bằng các thiết bị kỹ thuật lưu trữ hiện đại và thực hiện theo các quy định về bảo vệ hệ thống máy tính và cơ sở dữ liệu.

4. Các đơn vị, cá nhân tham gia mạng TSLCD thành phố phải tuyệt đối bảo mật các thông tin, bao gồm: tài khoản và mật khẩu truy cập các hệ thống ứng dụng hoạt động trên mạng TSLCD thành phố; không được tìm cách truy cập dưới bất cứ lý do nào vào các khu vực không được phép của hệ thống mạng TSLCD thành phố. Trường hợp có sự thay đổi chức năng, nhiệm vụ hoặc chấm dứt của bộ phận, cá nhân người sử dụng thì bộ phận, cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin được phân công phụ trách quản lý, vận hành khai thác mạng TSLCD tại đơn vị phải thực hiện ngay lập tức việc quản lý quyền truy cập trên mạng TSLCD đối với bộ phận, cá nhân người sử dụng đó.

5. Bảo mật hệ thống điều khiển mạng TSLCD thành phố tại Trung tâm Dữ liệu thành phố:

a) Trung tâm Thông tin và Truyền thông phải có văn bản quy trình quản lý, phân cấp, phân quyền tài khoản quản trị hệ thống chi tiết, rõ ràng, phân công cụ thể cho các vị trí quản lý, vận hành hệ thống mạng TSLCD thành phố;

b) Phải có hệ thống thiết bị tường lửa đạt tiêu chuẩn TCVN 9801-2:2015 (ISO/IEC 27033-2:2012) bảo đảm an toàn, an ninh để điều khiển, quản lý, bảo vệ cả bên trong và bên ngoài cho hệ thống mạng TSLCD thành phố;

c) Mật khẩu thiết lập cho các loại tài khoản truy cập vào hệ thống mạng TSLCD phải có độ dài tối thiểu 09 (chín) ký tự, phải bao gồm chữ hoa, chữ thường, chữ số và ký tự đặc biệt.

6. Các hành vi bị nghiêm cấm:

a) Kết nối vật lý và thực hiện truy cập trái phép vào mạng TSLCD thành phố nếu chưa được sự cho phép của cơ quan có thẩm quyền;

b) Lợi dụng cơ sở hạ tầng mạng TSLCD thành phố vào các mục đích không thuộc phạm vi, chức năng, nhiệm vụ được phân công để cung cấp, phát tán thông tin thuộc nội dung, lĩnh vực bị pháp luật cấm;

c) Thay đổi kết nối, thông số thiết lập kỹ thuật mạng của các thiết bị công nghệ thông tin liên quan đến mạng TSLCD thành phố mà không thuộc thẩm quyền, gây xung đột tài nguyên, ảnh hưởng đến quá trình vận hành, khai thác hệ thống mạng TSLCD thành phố.

7. Các hành vi tấn công mạng gây ảnh hưởng đến quá trình hoạt động của hệ thống mạng TSLCD thành phố phải được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.