Điều 7. Xử lý vi phạm
1. Người thực hiện chính sách thu hút không đến công tác sau thời hạn quy định (kể cả thời gian gia hạn) thì cơ quan, đơn vị nơi dự kiến tiếp nhận ứng viên báo cáo cơ quan có thẩm quyền hủy bỏ kết quả tiếp nhận.
2. Người thực hiện chính sách thu hút phải chịu trách nhiệm hoàn trả một lần toàn bộ các khoản ưu đãi đã được hưởng (ngoại trừ tiền thuê nhà ở), nếu trong thời gian cam kết làm việc vi phạm một trong các trường hợp sau:
a) Không chấp hành sự phân công công tác của cơ quan, đơn vị nơi công tác;
b) Bị kỷ luật buộc thôi việc;
c) Tự ý bỏ việc, thôi việc hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc khi chưa đủ thời gian theo cam kết.
3. Cách tính chi phí hoàn trả:
a) Trường hợp người thực hiện chính sách thu hút có lý do chính đáng phải thôi việc, chấm dứt hợp đồng làm việc, chuyển công tác khi chưa hết thời gian làm việc theo cam kết thì phải được cơ quan, đơn vị công tác thống nhất đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét chấp thuận; mức hoàn trả trong trường hợp này được tính theo công thức sau:
Chi phí hoàn trả B = P/T x (T - T1)
Trong đó:
- B là chi phí hoàn trả
- P là tổng kinh phí hỗ trợ đã cấp cho người thực hiện chính sách thu hút;
- T là thời gian công tác theo cam kết được tính bằng số tháng làm tròn;
- T1 là thời gian đã công tác được tính bằng số tháng làm tròn.
b) Việc hoàn trả chi phí hỗ trợ phải được thực hiện trước khi thôi việc, chấm dứt hợp đồng làm việc hoặc chuyển công tác. Chưa giải quyết thủ tục có liên quan nếu người thực hiện chính sách thu hút chưa thực hiện xong việc hoàn trả theo quy định.
4. Trả và thu hồi kinh phí hỗ trợ:
a) Chậm nhất trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày nhận được thông báo đề nghị hoàn trả kinh phí hỗ trợ của cơ quan, đơn vị quản lý, người hoàn trả chi phí hỗ trợ có trách nhiệm nộp trả đầy đủ khoản tiền phải hoàn trả;
b) Trường hợp người hoàn trả không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả thì cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp không giải quyết các chế độ, chính sách và có quyền khởi kiện theo quy định pháp luật.