Điều 13. Xử lý vi phạm
1. Người thực hiện chính sách hỗ trợ phải chịu trách nhiệm hoàn trả một lần toàn bộ các khoản đã được hưởng theo chính sách hỗ trợ, khuyến khích quy định tại Khoản 3 Điều 1 Nghị quyết số 17/2014/NQ-HĐND (ngoài việc phải đền bù chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo quy định hiện hành đối với CBCCVC đào tạo trong quy hoạch, kế hoạch) nếu trong thời gian cam kết làm việc sau đào tạo vi phạm một trong các trường hợp sau:
a) Không chấp hành sự phân công công tác của cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp;
b) Bị kỷ luật buộc thôi việc;
c) Tự ý bỏ việc, thôi việc hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc khi chưa phục vụ đủ thời gian cam kết sau đào tạo.
2. Trường hợp có lý do chính đáng phải thôi việc, chấm dứt hợp đồng làm việc, chuyển công tác khi chưa hết thời gian làm việc theo cam kết thì phải được cơ quan, đơn vị công tác thống nhất đề nghị cơ quan có thẩm quyền chấp thuận; mức hoàn trả trong trường hợp này được tính theo công thức như sau:
a) Chi phí hoàn trả B = P/T x (T - T1)
Trong đó:
- B là chi phí hoàn trả;
- P là tổng kinh phí hỗ trợ đã cấp cho người thực hiện chính sách thu hút;
- T là thời gian công tác theo cam kết được tính bằng số tháng làm tròn;
- T1 là thời gian đã công tác được tính bằng số tháng làm tròn.
b) Việc hoàn trả một phần chi phí hỗ trợ phải được thực hiện trước khi thôi việc, chấm dứt hợp đồng làm việc, chuyển công tác. Chưa giải quyết thủ tục có liên quan nếu người thực hiện chính sách hỗ trợ chưa hoàn trả theo quy định có liên quan.
3. Trả và thu hồi kinh phí hỗ trợ:
a) Chậm nhất trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày, kể từ ngày nhận được thông báo đề nghị hoàn trả kinh phí hỗ trợ của cơ quan, đơn vị quản lý; người hoàn trả chi phí hỗ trợ có trách nhiệm nộp trả đầy đủ khoản tiền phải hoàn trả;
b) Trường hợp người hoàn trả không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả thì cơ quan, đơn vị quản lý trực tiếp không giải quyết các chế độ, chính sách và có quyền khởi kiện theo quy định pháp luật.