Điều 9. Lập dự toán ngân sách phường, xã.
1. Yêu cầu, căn cứ, trình tự và biểu mẫu để lập dự toán ngân sách phường, xã được thực hiện theo quy định tại Thông tư 103/1998/TT-BTC ngày 18/7/1998, Thông tư số 01/1999/TT-BTC ngày 04/01/1999 và các văn bản hướng dẫn khác của Bộ Tài chính.
2. Đối với các loại thu tại phường, xã; Ban Tài chính phường, xã phối hợp với đội Thuế phường, xã để tính toán các khoản thu đảm bảo đủ căn cứ cụ thể, đúng quy định của pháp luật.
Đối với các khoản thu huy động và vận động tổ chức, nhân dân đóng góp bằng tiền, bằng hiện vật hoặc bằng công lao động để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng thì phường, xã chỉ đưa vào dự toán ngân sách sau khi đã xác định cụ thể mức đóng góp, mục đích sử dụng theo Nghị quyết HĐND phường, xã và đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật và Nghị quyết của HĐND cấp trên.
3. Dự toán chi ngân sách phường, xã phải được xây dựng cụ thể trên cơ sở đúng chính sách, chế độ, định mức của Nhà nước theo nội dung các nhiệm vụ chi thuộc ngân sách phường, xã.
Tổng mức dự toán chi thường xuyên của ngân sách phường, xã không được thấp hơn định mức dự toán chi thường xuyên bình quân của phường, xã do thành phố quy định.
Khoản dự phòng ngân sách phường, xã được bố trí hàng năm từ 3% đến 5% trên tổng số chi để khắc phục hậu quả thiên tai, địch họa hoặc bổ sung cho những nhu cầu chi cấp thiết chưa được bố trí trong dự toán hoặc có bố trí nhưng chưa đủ mà sau khi sắp xếp lại các khoản chi vẫn không xử lý được. Các khoản chi từ nguồn dự phòng phải được UBND phường, xã quyết định bằng văn bản.
4. Đảng ủy, UBMT Tổ quốc, các Hội, Đoàn thể chính trị của phường, xã hàng năm căn cứ vào nhiệm vụ, chế độ quy định để lập dự toán những khoản thu, chi cụ thể; xác định số chênh lệch thu- chi để Ban Tài chính phường, xã tổng hợp vào dự toán ngân sách phường, xã.