Điều 4. Hạn mức công nhận diện tích đất ở đối với trường hợp thửa đất ở có vườn, ao được hình thành từ ngày 18 tháng 12 năm 1980 đến trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 và người đang sử dụng có một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013, Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai và khoản 16 Điều 2 Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06 tháng 01 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số Nghị định quy định chi tiết thi hành Luật Đất đai mà trong giấy tờ đó không ghi rõ diện tích đất ở
1. Thửa đất ở thuộc các xã tại các vị trí đất ven quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, mặt đường phố, mặt phố, ven chợ: Hộ gia đình có một nhân khẩu thì hạn mức công nhận diện tích đất ở là 250 m²; hộ gia đình có hai nhân khẩu trở lên thì hạn mức công nhận là 500 m².
2. Thửa đất ở thuộc các xã tại các vị trí đất còn lại (trừ các vị trí đất ven quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, mặt đường phố, mặt phố, ven chợ): Hộ gia đình có một nhân khẩu thì hạn mức công nhận diện tích đất ở là 300 m²; hộ gia đình có hai nhân khẩu trở lên thì hạn mức công nhận diện tích đất ở là 900 m².
3. Thửa đất ở thuộc các phường, thị trấn tại các vị trí đất ven quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, mặt đường phố, mặt phố, ven chợ: Hộ gia đình có một nhân khẩu thì hạn mức công nhận diện tích đất ở là 120 m²; hộ gia đình có hai nhân khẩu trở lên thì hạn mức công nhận diện tích đất ở là 450 m².
4. Thửa đất ở thuộc các phường, thị trấn tại các vị trí đất còn lại (trừ các vị trí đất ven quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện, mặt đường phố, mặt phố, ven chợ): Hộ gia đình có một nhân khẩu thì hạn mức công nhận diện tích đất ở là 250 m²; hộ gia đình có hai nhân khẩu trở lên thì hạn mức công nhận diện tích đất ở là 600 m².
5. Nhân khẩu trong mỗi hộ gia đình là các thành viên trong hộ gia đình, bao gồm những người có quan hệ hôn nhân, huyết thống, nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình đang sống chung trên thửa đất tại thời điểm đề nghị cấp Giấy chứng nhận. Số lượng thành viên trong hộ gia đình được xác định trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, trường hợp không khai thác được thông tin về cư trú trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thì nhân khẩu trong mỗi hộ gia đình được xác định trong Giấy xác nhận thông tin về cư trú.
QUY ĐỊNH VỀ ĐIỀU KIỆN TÁCH THỪA, HỢP THỪA VÀ DIỆN TÍCH ĐẤT TỐI THIỂU ĐƯỢC PHÉP TÁCH THỪA ĐỐI VỚI TỪNG LOẠI ĐẤT