vanban.org

Điều 5. Yêu cầu công nhận sáng kiến — Quyết định 12/2014/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 28/02/2025 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 28/02/2025 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 13/2025/QĐ-UBND · 28/02/2025
Quảng Bình Ban hành 08/07/2014 Hiệu lực 18/07/2014 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 12 năm
Quyết định số 12/2014/QĐ-UBND Ban hành Điều lệ Sáng kiến tỉnh Quảng Bình · 12/2014/QĐ-UBND
28/02/202513/2025/QĐ-UBNDBãi bỏ Đang xem 18/07/2014Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 12/2014/QĐ-UBND › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Yêu cầu công nhận sáng kiến

1. Tác giả sáng kiến có thể yêu cầu công nhận sáng kiến tại các cơ sở sau đây:

a) Tại cơ sở là chủ đầu tư tạo ra sáng kiến;

b) Tại cơ sở được tác giả sáng kiến chuyển giao sáng kiến theo thỏa thuận giữa hai bên, với điều kiện chủ đầu tư tạo ra sáng kiến từ chối công nhận sáng kiến và không có thỏa thuận khác với tác giả sáng kiến;

c) Tại cơ sở được tác giả sáng kiến chuyển giao sáng kiến theo thỏa thuận giữa hai bên, trong trường hợp tác giả sáng kiến đồng thời là chủ đầu tư tạo ra sáng kiến.

2. Đối với giải pháp đã được áp dụng, thời hiệu thực hiện quyền yêu cầu công nhận sáng kiến là 01 năm kể từ ngày sáng kiến được đưa vào áp dụng lần đầu.

3. Đơn yêu cầu công nhận sáng kiến bao gồm các nội dung sau đây:

a) Tên cơ sở được yêu cầu công nhận sáng kiến;

b) Tác giả sáng kiến hoặc các đồng tác giả sáng kiến (nếu có) và tỷ lệ đóng góp của từng đồng tác giả;

c) Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến;

Trường hợp tác giả sáng kiến không đồng thời là chủ đầu tư tạo ra sáng kiến thì trong đơn cần nêu rõ chủ đầu tư tạo ra sáng kiến là cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào. Nếu sáng kiến được tạo ra do Nhà nước đầu tư kinh phí, phương tiện vật chất - kỹ thuật thì trong đơn cần ghi rõ thông tin này;

d) Mô tả sáng kiến:

Sáng kiến phải đáp ứng yêu cầu quy định tại Điều 3 và có tính mới, khả năng mang lại lợi ích thiết thực của sáng kiến theo quy định tại Điều 4 Điều lệ này.

Mô tả sáng kiến cần ngắn gọn, đầy đủ và rõ ràng, với các nội dung chủ yếu như:

d.1. Tên sáng kiến: Phải thể hiện đúng bản chất của giải pháp;

d.2. Lĩnh vực áp dụng: Nêu rõ lĩnh vực có thể áp dụng sáng kiến và vấn đề mà sáng kiến giải quyết; 

d.3. Đánh giá hiện trạng các giải pháp trước khi áp dụng giải pháp mới (cần phân tích ưu nhược điểm của giải pháp cũ);

d.4. Mục đích giải pháp mới;

d.5. Nội dung cơ bản của giải pháp (nêu rõ những nội dung đã cải tiến, sáng tạo mới, tính mới để khắc phục những nhược điểm của giải pháp đã biết);

d.6. Các bước thực hiện giải pháp (kèm theo các điều kiện cần thiết để áp dụng giải pháp; bản mô tả nội dung sáng kiến có thể minh họa bằng các bản vẽ, thiết kế, sơ đồ, ảnh chụp mẫu sản phẩm… nếu cần thiết);

d.7. Về khả năng áp dụng của sáng kiến (nêu rõ về việc giải pháp đã được áp dụng, kể cả áp dụng thử trong điều kiện kinh tế - kỹ thuật tại cơ sở và mang lại lợi ích thiết thực; ngoài ra có thể nêu rõ giải pháp còn có khả năng áp dụng cho những đối tượng, cơ quan, tổ chức khác);

d.8. Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến;

d.9. Đánh giá lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp trong đơn theo ý kiến của tác giả và theo ý kiến của tổ chức, cá nhân tham gia áp dụng giải pháp lần đầu, kể cả áp dụng thử tại cơ sở theo các nội dung sau:

So sánh lợi ích kinh tế, xã hội thu được khi áp dụng giải pháp trong đơn so với trường hợp không áp dụng giải pháp đó hoặc so với những giải pháp tương tự đã biết ở cơ sở (cần nêu rõ giải pháp đem lại hiệu quả kinh tế, lợi ích xã hội cao hơn như thế nào hoặc khắc phục được đến mức độ nào những nhược điểm của giải pháp đã biết trước đó - nếu là giải pháp cải tiến giải pháp đã biết trước đó);

Số tiền làm lợi (nếu có thể tính được) và nêu cách tính cụ thể.

d.10. Ngày, nơi và những người đã tham gia áp dụng sáng kiến lần đầu hoặc áp dụng thử;

d.11. Tài liệu kèm theo (nếu có).

g) Những thông tin yêu cầu được bảo mật (nếu có);

h) Tác giả sáng kiến cam đoan không sao chép hoặc vi phạm bản quyền của tác giả khác và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính trung thực của thông tin nêu trong đơn yêu cầu công nhận sáng kiến.