vanban.org

Điều 4. Chế độ tiền công đối với vận động viên, huấn luyện viên thể thao — Quyết định 12/2012/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 19/04/2019 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 19/04/2019 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 08/2019/QĐ-UBND · 09/04/2019 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 03/2017/QĐ-UBND · 18/01/2017
Yên Bái Ban hành 11/05/2012 Hiệu lực 21/05/2012 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 phiên bản · 14 năm
Quyết định số 12/2012/QĐ-UBND Ban hành Quy định một số chế độ đối với vận động viên, huấn luyện viên thể thao và chế độ chi tiêu tài chính đối với các giải thi đấu thể thao của tỉnh Yên Bái · 12/2012/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 12/2012/QĐ-UBND › Chương II › Mục I › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Chế độ tiền công đối với vận động viên, huấn luyện viên thể thao

1. Vận động viên, huấn luyện viên thể thao là người có quốc tịch Việt Nam không hưởng lương từ ngân sách nhà nước: Được cơ quan, tổ chức sử dụng vận động viên, huấn luyện viên (cơ quan ra quyết định triệu tập huấn luyện viên, vận động viên) trả công bằng tiền theo ngày trong thời gian tập trung tập huấn và thi đấu,

2. Thời gian áp dụng:

a) Thời gian tập trung tập huấn tối đa không quá 30 ngày/ 01 giải thi đấu thể thao.

b) Thời gian tập trung thi đấu theo điều lệ tổ chức giải thi đấu.

3. Mức chi tiền công một ngày trong thời gian tập trung tập huấn và thi đấu, như sau:

a) Huấn luyện viên đội tuyển cấp tỉnh: 90.000 đồng/người/ngày;

b) Huấn luyện viên đội tuyển trẻ cấp tỉnh: 70.000 đồng/người/ngày;

c) Huấn luyện viên đội tuyển năng khiếu cấp tỉnh: 70.000 đồng/người/ngày;

Điểm d Khoản 3 Điều 4 đã bị bãi bỏ bởi 46/2012/QĐ-UBND, hiệu lực từ 05/01/2013. Xem nội dung trước khi bị bãi bỏ

đ) Vận động viên đội tuyển cấp tỉnh: 60.000 đồng/người/ngày;

e) Vận động viên đội tuyển trẻ cấp tỉnh: 30.000 đồng/người/ngày;

f) Vận động viên đội tuyển năng khiếu cấp tỉnh: 25.000 đồng/người/ngày;

Điểm g Khoản 3 Điều 4 đã bị bãi bỏ bởi 46/2012/QĐ-UBND, hiệu lực từ 05/01/2013. Xem nội dung trước khi bị bãi bỏ

4. Đối với huấn luyện viên, vận động viên thể thao hưởng lương từ ngân sách nhà nước

a) Trong thời gian tập trung tập huấn và thi đấu được hưởng nguyên lương tại cơ quan, tổ chức quản lý vận động viên, huấn luyện viên. Trường hợp mức tiền lương theo ngày (tiền lương tháng chia 22 ngày) thấp hơn mức tiền công quy định tại khoản 3 Điều này thì được cơ quan, tổ chức sử dụng vận động viên, huấn luyện viên chi trả phần chênh lệch để đảm bảo bằng các mức quy định tương ứng.

b) Trường hợp vận động viên, huấn luyện viên thể thao có thời gian thực tế tập huấn và thi đấu cao hơn số ngày làm việc tiêu chuẩn trong tháng (nhiều hơn 22 ngày/tháng) thì cơ quan, tổ chức sử dụng vận động viên, huấn luyện viên trả tiền công bằng mức quy định tại khoản 3 Điều này cho số ngày cao hơn ngày làm việc tiêu chuẩn.

c) Khoản bù chênh lệch giữa tiền lương và tiền công trả cho số ngày làm việc cao hơn số ngày làm việc tiêu chuẩn quy định tại điểm a, b khoản 4 Điều này không được dùng để tính đóng và hưởng các chế độ bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội.