Điều 19. Thu hồi đối với các loại Giấy chứng nhận đã cấp.
1. Không phải ra thông báo thu hồi Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất, sở hữu tài sản gắn liền với đất trong trường hợp có biến động phải cấp đổi Giấy chứng nhận; Văn phòng ĐKQSDĐ có trách nhiệm ghi lý do thu hồi và đóng dấu của Văn phòng ĐKQSDĐ tại trang 1 (tại trang 2 đối với Giấy chứng nhận đã cấp trước ngày Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19 tháng 10 năm 2009 của Chính phủ) bản chính của Giấy chứng nhận trước khi đưa vào hồ sơ lưu trữ.
2. Thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp sạt lở tự nhiên đối với cả thửa đất; có thay đổi ranh giới thửa đất mà phải cấp mới giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và trường hợp cả thửa đất bị thu hồi theo quy định Điều 38 Luật đất đai thì Phòng Tài nguyên và Môi trường ra thông báo thu hồi Giấy chứng nhận.
3. Thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trái pháp luật được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 25 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP.
4. Việc thu hồi giấy chứng nhận đã cấp đối với các trường hợp không thuộc khoản 1, 2 và 3 Điều này chỉ thực hiện khi có bản án hoặc quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực thi hành.
5. Trường hợp đã có Quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi Giấy chứng nhận hoặc có thông báo thu hồi Giấy chứng nhận của Phòng Tài nguyên và Môi trường nhưng không thu hồi lại được Giấy chứng nhận thì sau ba mươi (30) ngày kể từ ngày có quyết định thu hồi Giấy chứng nhận hoặc thông báo thu hồi giấy chứng nhận, Uỷ ban Nhân dân cấp huyện ra Quyết định huỷ Giấy chứng nhận không thu hồi lại được; sau khi có quyết định hủy Giấy chứng nhận (kể cả trường hợp mất Giấy chứng nhận) thì Văn phòng ĐKQSDĐ cấp huyện thông báo chấm dứt giao dịch đối với Giấy chứng nhận đó gửi Uỷ ban Nhân dân cấp xã nơi có đất, tài sản gắn liền với đất và các cơ quan có liên quan, đồng thời cập nhật hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu địa chính.
6. Văn phòng ĐKQSDĐ cấp huyện có trách nhiệm lưu trữ Giấy chứng nhận đã thu hồi thuộc thẩm quyền của Uỷ ban Nhân dân cấp huyện cấp.