Điều 5. Quy định các công trình phải có giấy phép xây dựng
1. Trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải có giấy phép xây dựng, kể cả công trình đã được cơ quan có thẩm quyền thẩm định thiết kế cơ sở, trừ trường hợp xây dựng các công trình sau đây:
a) Công trình thuộc bí mật Nhà nước, công trình xây dựng theo lệnh khẩn cấp, công trình tạm phục vụ thi công xây dựng công trình chính;
b) Công trình xây dựng theo tuyến không đi qua đô thị nhưng phù hợp với quy hoạch xây dựng được duyệt;
c) Công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, trừ các công trình chỉ lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật. Tuy nhiên, trước khi khởi công xây dựng công trình chủ đầu tư phải gửi kết quả thẩm định thiết kế cơ sở cho cơ quan cấp phép xây dựng theo dõi, quản lý;
d) Công trình hạ tầng kỹ thuật có tổng mức đầu tư dưới 7 tỷ đồng thuộc các xã vùng sâu, vùng xa quy định tại phụ lục 2 kèm theo Quy định này;
e) Nhà ở riêng lẻ thuộc các xã vùng sâu, vùng xa quy định tại phụ lục 2 kèm theo Quy định này và các điểm dân cư nông thôn chưa có quy hoạch xây dựng được duyệt.
2. Đối với các công trình quy định tại điểm d, e khoản 1 của Điều này, trước khi khởi công xây dựng công trình, chủ đầu tư phải đăng ký xây dựng công trình tại Uỷ ban nhân dân xã, nơi tọa lạc công trình để được kiểm tra, theo dõi thi công (theo mẫu 23 phụ lục kèm theo Quy định này).
3. Đối với nhà ở riêng lẻ tại nông thôn: Uỷ ban nhân dân huyện, thị có trách nhiệm quy định cụ thể các điểm dân cư tập trung, điểm dân cư dọc các tuyến đường thuộc địa bàn phải cấp giấy phép xây dựng.
4. Đối với công trình tượng đài, tranh hoành tráng, thực hiện quảng cáo phải được sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền.