Điều 5. Lựa chọn nhà thầu tư vấn và tổ chức lập dự án đầu tư
1.Lựa chọn nhà thầu tư vấn lập dự án đầu tư:
a)Căn cứ quyết định chủ trương lập dự án, Chủ đầu tư quyết định tổ chức lựa chọn nhà thầu tư vấn theo quy định tại khoản 1 Điều 9 và khoản 2 Điều 12 Nghị định số 85/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật Xây dựng (sau đây gọi tắt là Nghị định 85/CP).
Trường hợp công trình công cộng có quy mô lớn hoặc công trình có yêu cầu kiến trúc đặc thù, tại quyết định chủ trương lập dự án, người có thẩm quyền quyết định đầu tư quyết định lựa chọn hình thức thi tuyển hoặc tuyển chọn thiết kế kiến trúc công trình theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Nghị định số 83/2009/NĐ-CP ngày 15/10/2009 của Chính phủ (sau đây gọi tắt là Nghị định 83/CP) về sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình (sau đây gọi tắt là Nghị định 12/CP);
Các trường hợp khác, khi cần thiết Chủ đầu tư tự quyết định việc thi tuyển hoặc tuyển chọn thiết kế kiến trúc để tổ chức lập dự án đầu tư xây dựng công trình.
b)Trường hợp Chủ đầu tư có đủ điều kiện năng lực thì được tự lập dự án đầu tư theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 41 của Luật Xây dựng.
2.Về đối tượng công trình xây dựng và yêu cầu lập dự án đầu tư, báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình:
a)Các công trình phải lập dự án đầu tư xây dựng công trình, bao gồm:
-Công trình xây dựng mới, cải tạo, sửa chữa, nâng cấp phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch xây dựng có tổng mức đầu tư từ 15 tỷ đồng trở lên;
-Công trình bảo tồn, tôn tạo di tích lịch sử và văn hoá;
-Công trình có kiến trúc đặc thù trong thành phố, thị xã (tượng đài và công trình nghệ thuật điêu khắc khác); công trình có vị trí xây dựng là điểm nhấn đô thị, ảnh hưởng quyết định đến cảnh quan, kiến trúc đô thị; công trình là biểu tượng về truyền thống văn hoá và lịch sử của địa phương;
-Công trình thuộc đối tượng phải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường tại Nghị định số 21/2008/NĐ-CP ngày 28/02/2008 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 80/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
b)Các công trình thuộc đối tượng lập báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình quy định tại khoản 1 Điều 13 Nghị định 12/CP, trừ các trường hợp quy định tại điểm a khoản này.
c)Yêu cầu lập dự án đầu tư và báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình:
-Căn cứ quyết định chủ trương lập dự án, Chủ đầu tư và nhà thầu tư vấn hoặc tự Chủ đầu tư tổ chức triển khai lập dự án đầu tư xây dựng công trình theo quy định tại các
khoản 1 và khoản 2 Điều 6, Điều 7 và Điều 8 Nghị định 12/CP; lập Báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 13 Nghị định 12/CP;
-Việc lập tổng mức đầu tư của dự án theo quy định tại các Điều 4, Điều 5 và Điều 6 Nghị định số 99/2007/NĐ-CP ngày 13/6/2007 của Chính phủ về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình (sau đây gọi tắt là Nghị định 99/CP; lập tổng mức đầu tư của báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình theo quy định tại các Điều 8, Điều 9 và Điều 10 Nghị định 99/CP;
-Nội dung dự án đầu tư và báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình bảo đảm định hướng nghiên cứu tại quyết định chủ trương lập dự án và Chủ đầu tư chịu trách nhiệm toàn diện về hồ sơ và nội dung dự án đầu tư;
d)Quá trình tổ chức lập dự án đầu tư hoặc báo cáo kinh tế - kỹ thuật xây dựng công trình, chủ đầu tư được đề nghị Sở Kế hoạch và Đầu tư, các Sở xây dựng chuyên ngành và Sở quản lý ngành hướng dẫn đầy đủ về các thủ tục và nội dung thuộc quy trình lập, thẩm định và phê duyệt dự án theo quy định của pháp luật về quản lý đầu tư xây dựng công trình và có liên quan;
Khi nhận được đề nghị của chủ đầu tư, Sở Kế hoạch và Đầu tư, các Sở xây dựng chuyên ngành và Sở quản lý ngành chịu trách nhiệm hướng dẫn chủ đầu tư đầy đủ về quy trình, thủ tục và các nội dung lập dự án theo đúng quy định của pháp luật.