vanban.org

Điều 12. Lập, thẩm định, phê duyệt phương án đấu giá — Quyết định số 1068/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 25/08/2016 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 25/08/2016 Thay thế: 1639/2016/QĐ-UBND · 15/08/2016
Hải Phòng Ban hành 15/07/2011 Hiệu lực 25/07/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời quyết định · 4 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 1639/2016/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất, hoặc cho thuê đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng · 1639/2016/QĐ-UBND
Quyết định số số 1068/2011/QĐ-UBND Về việc ban hành Quy chế đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn thành phố Hải Phòng · số 1068/2011/QĐ-UBND
25/08/20161639/2016/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 25/07/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định số 1068/2011/QĐ-UBND › Chương II › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12. Lập, thẩm định, phê duyệt phương án đấu giá

1. Trung tâm Phát triển quỹ đất các cấp lập phương án đấu giá quyền sử dụng đất của khu đất theo quy định tại khoản 1, Điều 11 của Quy chế này. Sở Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm kiểm tra phương án do Trung tâm Phát triển quỹ đất cùng cấp lập, có văn bản gửi Sở Tài chính chủ trì cùng Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường thẩm định trình Uỷ ban nhân dân thành phố phê duyệt; trường hợp đấu giá quyền thuê quỹ đất công ích thuộc quản lý của Uỷ ban nhân dân cấp xã do Trung tâm phát triển quỹ đất cấp huyện lập chuyển cơ quan Tài chính cấp huyện chủ trì thẩm định trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện phê duyệt.

Đối với việc xác định giá khởi điểm trong phương án đấu giá quyền sử dụng đất, trường hợp cần thiết Trung tâm Phát triển quỹ đất có thể thuê tổ chức có đủ điều kiện hoạt động thẩm định giá tài sản xác định giá khởi điểm để xem xét, tham khảo trước khi hoàn chỉnh phương án đấu giá báo cáo cơ quan có thẩm quyền thẩm định.

2. Thẩm định:

a) Sở Tài chính chủ trì cùng Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài nguyên và Môi trường, Uỷ ban nhân dân cấp huyện nơi có đất đấu giá thẩm định phương án đấu giá thuộc thẩm quyền phê duyệt của Uỷ ban nhân dân thành phố quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 11 của Quy chế này.

b) Phòng Tài chính cấp huyện chủ trì cùng các Phòng: Tài nguyên và Môi trường, Quản lý đô thị, Hạ tầng kinh tế, Công thương, Chi cục Thuế nhà nước cấp huyện và Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có đất đấu giá thẩm định phương án đấu giá thuộc thẩm quyền phê duyệt của Uỷ ban nhân dân cấp huyện quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 11 của Quy chế này.

3. Hồ sơ trình thẩm định, trình duyệt phương án đấu giá gồm:

a) Quyết định thu hồi đất, giao đất để đấu giá của cơ quan có thẩm quyền;

b) Trích đo hoặc trích lục địa chính;

c) Bản đồ quy hoạch chi tiết phân lô, cơ cấu sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt;

d) Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;

đ) Phương án kỹ thuật và giá trị đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng và chi phí khác có liên quan;

e) Văn bản đề nghị của Trung tâm Phát triển quỹ đất;

g) Hồ sơ xác định giá khởi điểm do Trung tâm Phát triển quỹ đất lập (kèm theo tài liệu khảo sát giá hoặc thông tin về giao dịch thành quyền sử dụng đất gần khu đất đấu giá);

h) Phương án đấu giá quyền sử dụng đất.

4. Cơ quan tài chính các cấp căn cứ kết quả thẩm định, hoàn chỉnh hồ sơ, lập tờ trình, dự thảo quyết định trình Uỷ ban nhân dân cùng cấp phê duyệt phương án đấu giá quyền sử dụng đất theo thẩm quyền quy định tại khoản 2, Điều 11 của Quy chế này.

5. Phương án giá khởi điểm để đấu giá quyền sử dụng đất có hiệu lực trong vòng 60 ngày làm việc kể từ ngày ban hành quyết định phê duyệt. Trong thời gian hiệu lực của quyết định phê duyệt giá khởi điểm mà Uỷ ban nhân dân thành phố có quyết định điều chỉnh bảng giá các loại đất hoặc phương pháp xác định giá đất thì phải xác định, phê duyệt lại giá khởi điểm.