Điều 12. Báo cáo tình hình thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia
1. Các cơ quan thực hiện dự án thuộc chương trình mục tiêu quốc gia có trách nhiệm định kỳ (6 tháng, hàng năm) báo cáo tình hình và kết quả thực hiện dự án, gửi cơ quan chủ trì thực hiện chương trình, cơ quan chủ trì thực hiện dự án thành phần và Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính. Báo cáo 6 tháng gửi chậm nhất vào ngày 05 tháng 7 cùng năm; báo cáo năm gửi chậm nhất vào ngày 10 tháng 3 năm sau.
2. Căn cứ các văn bản hướng dẫn hiện hành của mỗi chương trình mục tiêu quốc gia, cơ quan chủ trì thực hiện chương trình, cơ quan chủ trì thực hiện dự án thành phần có trách nhiệm báo cáo tình hình và kết quả thực hiện chương trình định kỳ 6 tháng và hàng năm với bộ, ngành quản lý chương trình mục tiêu quốc gia và Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính để tổng hợp báo cáo chung toàn tỉnh.
3. Định kỳ (6 tháng, hàng năm), Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các Sở, ngành tổng hợp, xây dựng báo cáo tình hình và kết quả thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn tỉnh, trình Ban Chỉ đạo các chương trình mục tiêu quốc gia tỉnh Gia Lai (sau đây gọi tắt là Ban Chỉ đạo tỉnh), Ủy ban nhân dân tỉnh để báo cáo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Văn phòng Chính phủ và các bộ ngành quản lý chương trình trước ngày 20 tháng 7 cùng năm (đối với báo cáo 6 tháng) và trước ngày 31 tháng 3 năm sau (đối với báo cáo năm).
4. Trong báo cáo định kỳ của chủ chương trình, dự án phải đánh giá tiến độ thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia so với kế hoạch ban đầu đề ra theo từng mục tiêu, nhiệm vụ, kết quả đầu ra, những thay đổi (nếu có) và tình hình chấp hành dự toán được giao. Trường hợp chương trình không bảo đảm tiến độ và chất lượng so với dự kiến, trong báo cáo cần nêu rõ lý do chậm trễ, những khó khăn, vướng mắc và đề xuất phương án khắc phục.