Điều 13. X ử lý và theo dõi xử lý văn bản có nội dung trái pháp luật
1. Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày kể từ khi nhận được thông báo về văn bản có nội dung trái pháp luật, cơ quan ban hành văn bản phải tiến hành tự kiểm tra, xử lý văn bản có nội dung trái pháp luật.
2. Hết thời hạn xử lý theo quy định tại Khoản 1 Điều này, cơ quan ban hành văn bản trái pháp luật không tự kiểm tra, xử lý theo quy định hoặc cơ quan có thẩm quyền kiểm tra không nhất trí với kết quả xử lý thì trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, cơ quan có thẩm quyền kiểm tra báo cáo cơ quan có thẩm quyền cấp trên trực tiếp xem xét, xử lý theo quy định.
3. Thẩm quyền xử lý văn bản trái pháp luật của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện.
a) Đình chỉ việc thi hành và huỷ bỏ, bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp;
b) Đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và đề nghị Hội đồng nhân dân cùng cấp huỷ bỏ hoặc bãi bỏ.
4. Các hình thức xử lý văn bản trái pháp luật thực hiện theo quy định tại Điều 8 Quy chế này.
5. Cơ quan có thẩm quyền kiểm tra phải mở "Sổ theo dõi xử lý văn bản có dấu hiệu trái pháp luật" để theo dõi, đôn đốc việc xử lý văn bản (theo mẫu số 02/BTP/KTrVB ban hành kèm theo Thông tư số 20/2010/TT-BTP).
6. Hồ sơ kiểm tra văn bản theo thẩm quyền được lưu trữ làm cơ sở dữ liệu phục vụ yêu cầu công tác, hồ sơ lưu trữ gồm những tài liệu quy định tại Khoản 6 Điều 8 Quy chế này.