Điều 16. Công nhận sáng kiến
1. Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày sáng kiến được Hội đồng sáng kiến thông qua nhưng không được vượt quá thời hạn quy định tại Khoản 1 Điều 14, nếu không có khiếu nại hoặc tranh chấp về quyền tác giả, cơ sở xét công nhận sáng kiến có trách nhiệm cấp giấy chứng nhận sáng kiến (theo mẫu tại Phụ lục IV) cho chủ đơn có sáng kiến được công nhận và tự quyết định việc công bố công khai giải pháp đã được công nhận là sáng kiến để các cơ quan, tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng sáng kiến có thể tiếp cận được các thông tin liên quan đến sáng kiến.
2. Giấy chứng nhận sáng kiến được cấp cho tác giả/các đồng tác giả sáng kiến, chủ đầu tư tạo ra sáng kiến (nếu tác giả sáng kiến không đồng thời là chủ đầu tư tạo ra sáng kiến). Giấy chứng nhận sáng kiến có giá trị làm bằng chứng về việc sáng kiến được một cơ sở công nhận.
3. Theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân, cơ sở công nhận sáng kiến có quyền quyết định hủy bỏ việc công nhận sáng kiến và thông báo cho tác giả, chủ đầu tư tạo ra sáng kiến trong các trường hợp sau đây:
a) Người nộp đơn yêu cầu công nhận sáng kiến không phải là tác giả sáng kiến theo quy định tại Khoản 3 Điều 2;
b) Đối tượng được công nhận là sáng kiến không đáp ứng đầy đủ các điều kiện quy định tại Điều 3 và Điều 4 hoặc việc áp dụng, chuyển giao đối tượng đó xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của người khác;
c) Giả mạo tài liệu chứng minh trường hợp đặc cách công nhận sáng kiến theo quy định tại Điều 5.
4. Sáng kiến được cơ sở công nhận năm nào là căn cứ để xét tặng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở” của năm đó.
5. Sáng kiến cấp tỉnh được công nhận có giá trị trong vòng 3 năm để làm cơ sở xét, đề nghị tặng thưởng danh hiệu “Chiến sĩ thi đua cấp tỉnh” và danh hiệu “Chiến sĩ thi đua toàn quốc”.