vanban.org

Điều 4. Nguyên tắc thi đua, khen thưởng — Quyết định 07/2022/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 14/11/2024 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 14/11/2024 Thay thế: 61/2024/QĐ-UBND · 04/11/2024
Tây Ninh Ban hành 25/03/2022 Hiệu lực 07/04/2022 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời quyết định · 6 phiên bản · 5 năm
Quyết định số 34/2026/QĐ-UBND về việc ban hành Quy định về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh · 34/2026/QĐ-UBND
Quyết định số 61/2024/QĐ-UBND Ban hành Quy định đối tượng, tiêu chuẩn và số lượng hồ sơ xét tặng các danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh · 61/2024/QĐ-UBND
Quyết định số 07/2022/QĐ-UBND Ban hành Quy chế về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh · 07/2022/QĐ-UBND
14/11/202461/2024/QĐ-UBNDThay thế Đang xem 07/04/2022Bản gốcThay thế
Quyết định số 55/2020/QĐ-UBND Bãi bỏ khoản 9 Điều 4 Quy chế về công tác thi đua, khen thưởng trên địa bàn tỉnh Tây Ninh ban hành kèm theo Quyết định số 44/2020/QĐ-UBND ngày 27 tháng 10 năm 2020 của Ủy ban nhân dân tỉnh · 55/2020/QĐ-UBND
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 07/2022/QĐ-UBND › Chương I › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Nguyên tắc thi đua, khen thưởng

1. Nguyên tắc xét danh hiệu thi đua thực hiện theo quy định tại Điều 6 Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi, bổ sung và theo nguyên tắc sau:

a) Tự nguyện, tự giác, công khai, minh bạch, đoàn kết, hợp tác cùng phát triển;

b) Bảo đảm nguyên tắc tự nguyện tham gia thi đua của tập thể, cá nhân theo quy định;

c) Việc xét, tặng danh hiệu thi đua phải căn cứ vào nội dung đăng ký thi đua và tiêu chuẩn, thành tích đạt được gắn với minh chứng, sản phẩm cụ thể, thiết thực của tập thể, cá nhân.

2. Nguyên tắc khen thưởng thực hiện theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 6 Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi, bổ sung; Điều 3 Nghị định số 91/2017/NĐ-CP và theo các nguyên tắc sau:

a) Chính xác, công khai, công bằng, kịp thời;

b) Một hình thức khen thưởng có thể tặng nhiều lần cho một đối tượng; không tặng thưởng nhiều hình thức cho một thành tích đạt được. Hình thức khen thưởng theo đợt, chuyên đề không tính làm điều kiện, tiêu chuẩn đề nghị khen thưởng cấp Nhà nước;

c) Bảo đảm thống nhất giữa tính chất, hình thức và đối tượng khen thưởng. Khen thưởng phải căn cứ vào điều kiện, tiêu chuẩn và thành tích đạt được, không nhất thiết phải có hình thức khen thưởng mức thấp mới được khen thưởng mức cao hơn. Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ và cá nhân là người trực tiếp lao động, sản xuất, học tập, công tác hoặc chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Hình thức khen thưởng phải phù hợp với đối tượng, chức năng, nhiệm vụ được giao của tập thể, cá nhân và thành tích đạt được;

d) Kết hợp chặt chẽ động viên tinh thần với khuyến khích bằng lợi ích vật chất;

đ) Bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới trong thi đua, khen thưởng. Tuy nhiên, khi có nhiều cá nhân, tập thể cùng đủ điều kiện, tiêu chuẩn thì lựa chọn cá nhân nữ hoặc tập thể có tỷ lệ nữ từ 70% trở lên để xét khen thưởng. Đối với cán bộ lãnh đạo, quản lý là nữ thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng quá trình cống hiến được giảm 1/3 thời gian so với quy định chung; trường hợp quy định tuổi nghỉ hưu cao hơn thì thời gian giữ chức vụ để xét khen thưởng quá trình cống hiến được thực hiện theo quy định chung;

e) Không lấy một thành tích để làm hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền xét khen thưởng nhiều lần; với một thành tích, một đối tượng chỉ được một đơn vị đề nghị khen thưởng. Chú trọng khen thưởng tập thể nhỏ và cá nhân lao động trực tiếp, cá nhân có nhiều sáng kiến trong lao động, công tác, học tập, chiến đấu và phục vụ chiến đấu, gương “người tốt, việc tốt”, cá nhân có hành động đẹp, có sức lan tỏa trong cộng đồng;

g) Khi đề nghị khen thưởng Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh về thành tích theo công trạng và thành tích đạt được đối với cấp trưởng của đơn vị trực thuộc Cơ quan cấp tỉnh, UBND cấp huyện và Lãnh đạo UBND cấp xã: Phải đạt tiêu chuẩn khen thưởng về cá nhân theo quy định và tập thể đó không có cá nhân vi phạm từ mức khiển trách trở lên, trừ trường hợp cá nhân chuyển đến là người đứng đầu mà không liên quan đến sai phạm của tổ chức, cơ quan, cá nhân ở đơn vị mới;

h) Chuyên đề thi đua do cấp nào, đơn vị nào, ngành nào phát động thì cấp đó, đơn vị đó, ngành đó xét khen thưởng. Trường hợp tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu xuất sắc, phạm vi ảnh hưởng lớn đối với tỉnh thì trình Chủ tịch UBND tỉnh xem xét khen thưởng;

i) Chưa xét khen thưởng đối với tập thể đang thanh tra, kiểm tra và chưa xét khen thưởng đối với người được giao phụ trách trực tiếp có cấp dưới thuộc đơn vị, địa phương mình sai phạm, đang trong quá trình xem xét thi hành kỷ luật hoặc đang điều tra, thanh tra, kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm hoặc có đơn thư khiếu nại, tố cáo đang được xác minh làm rõ;

k) Đối với cấp phó người đứng đầu được ủy quyền phụ trách (điều hành) từ 6 tháng trở lên trong năm thực hiện nguyên tắc khen thưởng như người đứng đầu được quy định tại Điểm f Khoản này.

3. Danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng phải phù hợp với đối tượng, chức năng, nhiệm vụ được giao của tập thể, cá nhân và thành tích đạt được, lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ chuyên môn làm tiêu chí chính khen thưởng. Phải đảm bảo đầy đủ hồ sơ, điều kiện và tỷ lệ, báo cáo thành tích phải thực hiện theo mẫu đã quy định và bám sát tiêu chuẩn khen thưởng.

4. Khi xét công nhận danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng đối với người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương phải xem xét đến thành tích của tập thể do người đó phụ trách.

Đối với cá nhân thuộc diện Ban Thường vụ Tỉnh ủy quản lý, khi kết thúc năm công tác, Chủ tịch UBND tỉnh chỉ xét, công nhận danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng khi cá nhân này được Ban Thường vụ Tỉnh ủy xếp loại chất lượng từ mức hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên.

5. Tập thể đạt Giải tại các Hội diễn, Cuộc thi, Hội thi, Liên hoan cấp tỉnh, cấp khu vực thì khen thưởng cho tập thể, không khen thưởng cho từng cá nhân thuộc tập thể đó.

6. Trong cùng 01 năm, đối với các cá nhân là lãnh đạo đơn vị tham gia các Ban Chỉ đạo, Hội đồng cấp tỉnh, được tặng không quá 02 Bằng khen thành tích trong thực hiện Chuyên đề do các Ban Chỉ đạo, Hội đồng phụ trách (tính theo thời gian ban hành Quyết định khen thưởng).

7. Khen thưởng đối với cá nhân mà Luật Thi đua, khen thưởng sửa đổi, bổ sung quy định “Hoàn thành tốt nhiệm vụ”, “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ” là căn cứ kết quả xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức theo Luật Cán bộ, công chức năm 2008, Luật Viên chức năm 2010 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức; đối với cá nhân không thuộc đối tượng áp dụng Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức thì Thủ trưởng cơ quan, đơn vị thống nhất xem xét, đánh giá, xếp loại chất lượng bằng văn bản.

Đối với tập thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ là tập thể được Thủ trưởng đơn vị hoặc cấp có thẩm quyền đánh giá “Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ”, “Hoàn thành tốt nhiệm vụ” bằng văn bản.

8. Về việc làm tròn khi tính tỉ lệ công nhận danh hiệu thi đua và đề nghị hình thức khen thưởng: nếu chữ số sau chữ số đơn vị của tỉ lệ bằng 5 trở lên thì được tăng thêm 01 đơn vị, nếu nhỏ hơn 5 thì không tính. Riêng đối với các đơn vị nếu số lượng tập thể hoặc cá nhân tính theo tỉ lệ được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 10 và khoản 1 Điều 13 của Quy chế này không đủ để làm tròn thành 01 thì được đề nghị khen thưởng 01 tập thể hoặc 01 cá nhân.

9. Chỉ đề nghị khen thưởng cấp tỉnh khi có chỉ đạo của ngành cấp trên về sơ kết, tổng kết trong phạm vi toàn quốc.

10. Không xét khen thưởng đột xuất cho những tập thể, cá nhân thực hiện công việc được đảm nhận theo nhiệm vụ công tác hoặc theo chương trình, kế hoạch đã định trước, trừ những chuyên án lớn thực hiện theo chỉ đạo của UBND tỉnh.

11. Không thẩm định đối với hồ sơ đề nghị khen thưởng quá thời hạn nộp hồ sơ theo quy định (trừ trường hợp có lý do chính đáng, có văn bản giải trình của cấp trình khen thưởng); không khen thưởng các chuyên đề thi đua khi không đăng ký với UBND tỉnh (qua Sở Nội vụ); không có văn bản chỉ đạo hoặc kế hoạch sơ, tổng kết của đơn vị chủ trì, phát động chuyên đề được cấp có thẩm quyền phê duyệt; chuyên đề được phát động không xác định rõ chủ đề thi đua, mục đích, yêu cầu, nội dung, chỉ tiêu, thời gian thực hiện.

12. Đối với các cơ quan, đơn vị, địa phương vi phạm các nội dung không xét danh hiệu thi đua, khen thưởng theo Điều 5 Quy chế này, các tập thể nhỏ thuộc các cơ quan, đơn vị, địa phương đó mà không liên quan đến vụ việc vẫn được xem xét, công nhận danh hiệu thi đua, hình thức khen thưởng.