vanban.org

Điều 4. Giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ và chi phí đầu tư vào đất còn lại — Quyết định 07/2008/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 02/01/2010
Đồng Tháp Ban hành 04/03/2008 Hiệu lực 14/03/2008 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 07/2008/QĐ-UBND › Chương II › Điều 4
Đọc toàn văn

Điều 4. Giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ và chi phí đầu tư vào đất còn lại

1. Mức bồi thường, hỗ trợ về đất khi Nhà nước thu hồi đất được tính         như sau:

a) Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có quyết định thu hồi đất do Uỷ ban nhân dân Tỉnh công bố hàng năm theo quy định của Chính phủ; trường hợp tại thời điểm có quyết định thu hồi đất mà giá đất do Uỷ ban nhân dân Tỉnh công bố hàng năm theo quy định của Chính phủ chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trong điều kiện bình thường của thửa đất bị thu hồi thì phải xác định lại giá đất của thửa đất đó cho sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế trong điều kiện bình thường.

b) Việc xác định lại giá của thửa đất bi thu hồi do Tổ chức được giao nhiệm vụ thực hiện việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư chủ trì phối hợp với phòng Tài chính kế hoạch; phòng Tài nguyên và môi trường huyện, thị xã, thành phố xác định (theo mẫu Phụ lục số 1) hoặc thuê đơn vị có chức năng thẩm định giá của Nhà nước xác định và đưa vào phương án Tổng thể về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư gửi cơ quan Tài chính cùng cấp tổ chức thẩm định theo quy định tại khoản 2 Điều 24 của Quy định này. Trường hợp phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư thuộc thẩm quyền phê duyệt của Uỷ ban nhân dân cấp huyện mà trong đó giá đất bồi thường, hỗ trợ cao hoặc thấp hơn giá đất do Uỷ ban nhân dân Tỉnh quyết định và công bố thì Uỷ ban nhân dân cấp huyện gửi đề nghị (mẫu hồ sơ đề nghị quy định tại Phụ lục số 1) về Sở Tài chính thỏa thuận trước khi tiến hành phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư.

2. Chi phí hợp lý đầu tư vào đất còn lại là các chi phí thực tế người sử dụng đất đã đầu tư vào đất để sử dụng theo mục đích được phép sử dụng mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất còn chưa thu hồi được. Các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại phải có đầy đủ hồ sơ, chứng từ hoặc thực tế chứng minh. Chi phí đầu tư vào đất còn lại được xác định bằng tổng chi phí hợp lý, tính thành tiền đầu tư vào đất trừ đi số tiền tương ứng với thời gian đã sử dụng đất. Các khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại gồm:

a) Tiền sử dụng đất của thời hạn chưa sử dụng đất trong trường hợp giao đất có thời hạn, tiền thuê đất đã nộp trước cho thời hạn chưa sử dụng đất (có chứng từ hóa đơn nộp tiền).

b) Các khoản chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất theo hiện trạng của đất khi được giao, được thuê và phù hợp với mục đích sử dụng đất. Trường hợp thu hồi đất phi nông nghiệp hoặc đất ở mà đã được bồi thường theo giá đất phi nông nghiệp hoặc đất ở thì không được bồi thường chi phí san lấp mặt bằng, chi phí tôn tạo đất.

c) Trường hợp các khoản chi phí khác có liên quan ngoài quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều này mà có thể xác định được trong thực tế, thì cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường xác định khoản chi phí đầu tư vào đất còn lại trình Uỷ ban nhân dân cấp thẩm quyền (theo phân cấp tại Điều 25 của Quy định này) xem xét, quyết định.