Điều 9. Thẩm quyền quyết định đầu tư xây dựng
1. Dự án đầu tư sử dụng vốn ngân sách nhà nước:
a) Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố quyết định đầu tư các dự án nhóm A, nhóm B, nhóm C do thành phố quản lý, trừ các dự án quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều này.
b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã quyết định đầu tư dự án nhóm B, nhóm C sử dụng toàn bộ vốn cân đối ngân sách địa phương cấp huyện, cấp xã, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách địa phương cấp huyện, cấp xã và các dự án cụ thể do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ủy quyền.
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố ủy quyền:
- Giám đốc các Sở, ngành, đơn vị trực thuộc Ủy ban nhân dân thành phố theo lĩnh vực, phạm vi quản lý, phù hợp chức năng nhiệm vụ được giao, là người quyết định đầu tư các dự án có tổng mức đầu tư không quá 05 tỷ đồng, sử dụng nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng (bao gồm cả các dự án duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo nâng cấp hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị, cải tạo, nâng cấp cơ sở vật chất của các cơ quan đơn vị, các dự án sửa chữa, cải tạo, nâng cấp nhà thuộc sở hữu nhà nước sử dụng vốn từ tiền cho thuê nhà).
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện theo phạm vi quản lý, phù hợp chức năng nhiệm vụ được giao, là người quyết định đầu tư các dự án nhóm C, sử dụng nguồn vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư xây dựng.
3. Người được ủy quyền căn cứ ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện các quyền và trách nhiệm của người quyết định đầu tư xây dựng theo quy định tại Điều 72 Luật Xây dựng, Điều 37 Luật Đấu thầu, Điều 100 và Điều 101 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu và các quy định pháp luật khác có liên quan.
Người được ủy quyền không được ủy quyền tiếp cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.
4. Đối với dự án sử dụng các nguồn vốn khác, thẩm quyền quyết định đầu tư thực hiện theo quy định tại Điều 60 Luật Xây dựng năm 2014.