Điều 17. Công tác đấu thầu, chỉ định thầu và thực hiện hợp đồng giao nhận thầu.
1.Thời gian thẩm định và phê duyệt kế hoạch đấu thầu.
a) Thời gian thẩm định kế hoạch đấu thầu không quá mười lăm (15 ) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
b) Thời gian phê duyệt kế hoạch đấu thầu không quá năm ( 05 ) ngày làm việc , kể từ ngày nhận đủ báo cáo của cơ quan thẩm định.
2. Thời gian thẩm định và phê duyệt hồ sơ mời thầu.
a)Thời gian thẩm định hồ sơ mời thầu tối đa không quá mười (10 ) ngày làm việc , kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
b) Thời gian phê duyệt hồ sơ mời thầu tối đa không quá sáu ( 6 ) ngày làm việc .
3. Thời gian trong đấu thầu.
a) Thời gian sơ tuyển nhà thầu tối đa là hai mươi (20 ) ngày , đối với đấu thầu trong nước.
b) Thời gian thông báo mời thầu tối thiểu là mười (10 ) ngày , trước khi phát hành hồ sơ mời thầu.
c) Thời gian chuẩn bị hồ sơ dự thầu tối thiểu là mười lăm (15) ngày , đối với đấu thầu trong nước, kể từ ngày phát hành hồ sơ mời thầu đến thời điểm đóng thầu.
d) Thời gian đánh giá hồ sơ dự thầu tối đa là ba mươi (30 ) ngày , đối với đấu thầu trong nước, kể từ ngày mở thầu đến khi chủ đầu tư có báo cáo về kết quả đấu thầu trình người có thẩm quyền xem xét, quyết định. Đối với gói thầu có giá trị từ hai ( 02 ) tỷ trở xuống, thời gian đánh giá hồ sơ dự thầu tối đa không quá mười (10 ) ngày .
e) Thời gian thẩm định kết quả lựa chọn nhà thầu tối đa không quá mười lăm (15 ) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ.
f) Thời gian phê duyệt kết quả đấu thầu không quá sáu ( 06 ) ngày làm việc, kể từ khi nhận được báo cáo của cơ quan thẩm định.
g) Thời gian thẩm định kết quả chỉ định thầu không quá năm ( 05 ) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ và thời gian phê duyệt kết quả chỉ định thầu không quá ba ( 03 ) ngày làm việc, kể từ khi nhận được báo cáo của cơ quan thẩm định.
4. Tăng cường hiệu quả quản lý công tác đấu thầu và thực hiện hợp đồng giao nhận thầu.
a) Tập trung chủ yếu giao thầu công trình theo hình thức đấu thầu, trong đó ưu tiên là đấu thầu rộng rãi. Giao sở Kế hoạch và đầu tư đề xuất tiêu chí để áp dụng cho chỉ định thầu phù hợp với tình hình của địa phương.
b) Trong công tác đấu thầu cần công khai, minh bạch, đảm bảo công bằng, cạnh tranh và hiệu quả kinh tế.
c) Bên mời thầu (chủ đầu tư, Ban quản lý dự án đầu tư xây dựng ) và các cơ quan chuyên môn phải tuân thủ nguyên tắc đánh giá và lựa chọn nhà thầu như: Đánh giá năng lực về kinh nghiệm, kỹ thuật và khả năng tài chính; đánh giá các tiêu chí về tiến độ thực hiện, giá dự thầu, tiêu chuẩn kỹ thuật và chất lượng sản phẩm, điều kiện hợp đồng, … Đúng theo quy định của Luật đấu thầu và các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước hiện hành. Nhà thầu được xét trúng thầu phải chứng minh đầy đủ về năng lực kinh nghiệm, kỹ thuật, năng lực tài chính và khả năng huy động vốn để thực hiện gói thầu.
d) Trong quá trình thực hiện các gói thầu, nếu năng lực nhà thầu kém, không đảm bảo tiến độ thực hiện hoặc không thực hiện được, phải chấm dứt hợp đồng để giao cho nhà thầu khác; nếu giá trị giao thầu cao hơn giá trị trúng thầu ban đầu do điều chỉnh dự toán thì phần cao hơn đó phải được Chủ đầu tư tính toán xử phạt và được trích từ số tiền nộp bảo lãnh thực hiện hợp đồng của nhà thầu cũ để thanh toán cho nhà thầu mới. Không được điều chỉnh giá giao thầu tăng thêm bằng nguồn vốn ngân sách bổ sung cho gói thầu đó.
e) Chủ đầu tư khi ký hợp đồng thi công xây dựng công trình phải đưa vào nội dung hợp đồng các cam kết về trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và thưởng, phạt vi phạm hợp đồng theo quy định tại các điều 108, 110 của Luật Xây dựng để làm cơ sở cho Chủ đầu tư giải quyết các phát sinh trong thực hiện hợp đồng.