Điều 7. Giá đất bồi thường và mức bồi thường thiệt hại
1. Giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử dụng đã được UBND tỉnh quy định và công bố; không bồi thường theo giá đất sẽ được chuyển mục đích sử dụng.
Trường hợp tại thời điểm có Quyết định thu hồi đất mà giá này chưa sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất hợp pháp thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường thì UBND tỉnh quyết định giá bồi thường đất cho phù hợp.
2. Bồi thường đất nông nghiệp:
2.1. Đối với đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất có mặt nước nuôi trồng thủy sản có nguồn gốc quy định tại Điều 6 được bồi thường theo 100% đơn giá.
2.2. Đối với đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư tập trung, đất vườn ao liền kề với đất ở khu dân cư tập trung, ngoài việc bồi thường theo giá đất nông nghiệp cùng mục đích sử dụng còn được hỗ trợ 20% giá đất ở liền kề.
Khu dân cư tập trung được xác định là: Đất trong khu vực nội ô thị xã, thị trấn, đất thuộc vị trí 1 của các tuyến Quốc lộ, tỉnh lộ (tiếp giáp mép ngoài hành lang bảo vệ đường bộ vào sâu 30 m). Các khu dân cư tập trung khác do UBND cấp huyện trình UBND tỉnh phê duyệt.
2.3. Trường hợp hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất nông nghiệp đang sử dụng vượt hạn mức (03 ha đối với đất trồng cây hàng năm, 10 ha đối với đất trồng cây lâu năm) thì việc bồi thường được thực hiện như sau:
Trường hợp diện tích đất vượt hạn mức do thừa kế, tặng, cho, nhận chuyển nhượng từ người khác, tự khai hoang theo quy hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc sử dụng trước ngày 15/10/1993 không có tranh chấp được UBND cấp xã xác nhận thì được bồi thường 100% theo đơn giá đất nông nghiệp.
Diện tích đất vượt hạn mức của các trường hợp không thuộc quy định tại Điểm 2.3 Khoản này thì không bồi thường về đất, chỉ được hỗ trợ 30% theo đơn giá đất nông nghiệp tương ứng.
2.4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khoán đất sử dụng vào mục đích nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nông lâm trường quốc doanh, khi Nhà nước thu hồi thì không bồi thường về đất, nhưng được hỗ trợ theo quy định sau:
a) Hỗ trợ 50% đơn giá đất rừng sản xuất và tính theo diện tích thực tế thu hồi và tối đa không quá 30 ha cho hộ gia đình, cá nhân giao nhận khoán đất là cán bộ công nhân viên nông lâm trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nông lâm nghiệp, hộ gia đình, cá nhân nhận khoán đang trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn sống chủ yếu từ nông nghiệp.
b) Trường hợp hộ gia đình, cá nhân nhận khoán không thuộc đối tượng tại Điểm a Khoản này thì chỉ được hỗ trợ 20% đơn giá đất rừng sản xuất tính theo diện tích đất thực tế bị thu hồi nhưng tối đa không quá 30 ha cho hộ gia đình, cá nhân nhận khoán.
2.5. Đất nông nghiệp sử dụng chung của nông trường, lâm trường quốc doanh khi Nhà nước thu hồi, không bồi thường về đất nhưng hỗ trợ 3.000.000 đồng/ha chi phí đầu tư vào đất nếu chi phí này không có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nước.
2.6. Hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi mà đất không đủ điều kiện bồi thường theo quy định tại Điều 5 Quy định này, nếu trường hợp hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp và có nguồn thu nhập chính là từ sản xuất nông nghiệp trên đất bị thu hồi thì được xem xét hỗ trợ 50% đơn giá đất nông nghiệp nhưng diện tích đất được hỗ trợ không vượt quá 03 ha. Việc hỗ trợ này chỉ áp dụng đối với đất sử dụng trước ngày 01/7/2004 (ngày Luật Đất đai 2003 có hiệu lực).
2.7. Trường hợp đất thu hồi là đất nông nghiệp thuộc quỹ đất công ích của xã, phường, thị trấn thì không được bồi thường về đất. Người thuê đất công ích của xã, phường, thị trấn được hỗ trợ 3.000.000 đồng/ha chi phí đầu tư vào đất.
3. Bồi thường đối với đất là đất ở:
3.1. Mức bồi thường 100% đơn giá đất ở và diện tích bồi thường theo diện tích đất ở ghi trong Giấy CNQSDĐ.
3.2. Mức bồi thường 100% đơn giá đất ở và không quá 300 m2/hộ đối với đất đô thị, không quá 400 m2/hộ đối với đất khu dân cư nông thôn, trong các trường hợp sau:
- Đất ở có giấy tờ quy định tại Khoản 1 đến Khoản 6 Điều 6 của Quy định này (trừ trường hợp quy định ở Điểm 3.1 Khoản này).
- Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở theo Bản án hoặc Quyết định của Tòa án nhân dân, Quyết định thi hành án của cơ quan Thi hành án hoặc Quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước cấp có thẩm quyền đã được thi hành và đã thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước.
3.3. Đất có nguồn gốc theo quy định tại Khoản 8 Điều 6 hoặc đất nông nghiệp đã có Giấy CNQSDĐ và được bắt đầu sử dụng để ở trong khoảng thời gian từ sau 15/10/1993 đến 01/7/2004, nếu hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất có nhà ở ổn định và có hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú tại nơi bị giải tỏa khi bị thu hồi thì được hỗ trợ bằng 50% mức bồi thường đất ở (không áp giá bồi thường theo đơn giá đất nông nghiệp và trường hợp này không trừ nghĩa vụ thuế còn phải nộp đối với phần diện tích được hỗ trợ theo đơn giá đất ở này). Diện tích đất ở hỗ trợ được xác định theo quy định tại Điểm 3.5 Điều này.
3.4. Đối với các trường hợp hộ gia đình, cá nhân được hỗ trợ theo Điểm 3.3, Khoản 3, Điều này nhưng thuộc đối tượng được miễn giảm tiền sử dụng đất và chưa được miễn giảm lần nào (theo quy định tại Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ) thì số tiền bồi thường về đất ở được cộng thêm số tiền được miễn giảm (theo xác nhận của Chi cục Thuế) nhưng tổng số tiền bồi thường về đất ở tối đa bằng 100% mức bồi thường.
3.5. Các trường hợp đất được bồi thường, hỗ trợ theo đơn giá đất ở (thổ cư), diện tích đất ở được bồi thường, hỗ trợ xác định như sau:
- Trường hợp thu hồi hết đất: Đất có Giấy CNQSDĐ diện tích đất ở bồi thường, hỗ trợ là diện tích đã được ghi trong Giấy CNQSDĐ. Đất chưa có Giấy CNQSDĐ diện tích đất ở bồi thường, hỗ trợ được tính theo hạn mức đất ở (300 m2 đối với khu vực đô thị và 400 m2 đối vơi khu vực nông thôn). Trường hợp đất thu hồi có diện tích thấp hơn hạn mức diện tích đất ở thì bồi thường, hỗ trợ theo diện tích thực tế thu hồi.
- Trường hợp không thu hồi hết đất ở thì diện tích bồi thường đất ở được xác định theo tỷ lệ diện tích đất ở bị thu hồi so với tổng diện tích đất ở trong thửa đất hoặc được xác định theo diện tích xây dựng của nhà và công trình trên đất nhưng không vượt quá hạn mức đất ở.