Điều 4. Nguyên tắc bồi thường đất
1. Người bị Nhà nước thu hồi đất có đủ điều kiện quy định tại Điều 6 của Quy định này thì được bồi thường, trường hợp không đủ điều kiện bồi thường thì tùy từng trường hợp cụ thể được UBND tỉnh xem xét hỗ trợ.
2. Người bị thu hồi đất đang sử dụng vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng giá trị quyền sử dụng đất theo mục đích đang sử dụng tại thời điểm có Quyết định thu hồi. Trường hợp bồi thường bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà, nếu có chênh lệch về giá trị, thì phần chênh lệch đó được thực hiện thanh toán bằng tiền.
3. Trường hợp người sử dụng đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mà chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước theo quy định của pháp luật thì phải trừ đi khoản tiền phải thực hiện nghĩa vụ tài chính vào số tiền được bồi thường, hỗ trợ để hoàn trả Ngân sách Nhà nước. Nghĩa vụ tài chính gồm: Tiền sử dụng đất phải nộp; thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất (nếu có); tiền thu từ xử phạt vi phạm pháp luật về đất đai; tiền bồi thường khi gây thiệt hại trong quản lý sử dụng đất đai; phí và lệ phí sử dụng đất.
Nghĩa vụ tài chính về đất đai đối với Nhà nước được trừ tối đa bằng số tiền bồi thường và hỗ trợ về đất.
Diện tích đất được bồi thường là diện tích đất được xác định trên thực địa - thực tế đo đạc diện tích thu hồi của từng người sử dụng đất.