Điều 11. Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình
1. Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình bao gồm việc quản lý: Tổng mức đầu tư; dự toán xây dựng công trình; định mức và giá xây dựng; hợp đồng trong hoạt động xây dựng; thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình.
2. Quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình phải bảo đảm mục tiêu đầu tư và hiệu quả dự án, phù hợp với nguồn vốn sử dụng và giai đoạn đầu tư.
3. Nhà nước thực hiện chức năng quản lý về chi phí đầu tư xây dựng công trình thông qua việc ban hành, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình.
4. Chủ đầu tư xây dựng công trình chịu trách nhiệm toàn diện về việc quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác, sử dụng.
5. Chủ đầu tư được thuê tổ chức, cá nhân tư vấn để thực hiện việc lập, thẩm tra và kiểm soát chi phí đầu tư xây dựng công trình phù hợp với nguồn vốn sử dụng, điều kiện cụ thể của công trình xây dựng.
6. Nguyên tắc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình:
6.1. Việc lập và quản lý chi phí đầu tư xây dựng được thực hiện theo Nghị định số 99/NĐ-CP và các thông tư hiện hành của Bộ xây dựng và phải phù hợp với thời điểm lập chi phí đầu tư xây dựng .
6.2. Chủ đầu tư phải căn cứ những quy định lập và quản lý chi phí xây dựng của nhà nước để lập tổng mức đầu tư (TMĐT), tổng dự toán (TDT) công trình, dự toán (DT) công trình (hoặc hạng mục công trình) làm căn cứ để tổ chức đấu thầu xây lắp và quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình; Khi chưa có giá chuẩn hoặc suất vốn đầu tư được nhà nước ban hành tại thời điểm lập dự án thì TMĐT được xác định trên cơ sở khối lượng chủ yếu các công việc cần thực hiện theo TKCS và đơn giá hiện hành.
6.3. Chủ đầu tư xây dựng công trình chịu trách nhiệm quản lý chi phí đầu tư xây dựng công trình từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến khi công trình được đưa vào khai thác, sử dụng.