Điều 6. Hoạt động vận tải khách du lịch, vận tải khách theo hợp đồng, xe trung chuyển
1. Thực hiện đúng quy định tại Điều 53, Điều 67, Điều 68 Luật Giao thông đường bộ năm 2008, Điều 7 Nghị định số 86/2014/NĐ-CP; các quy định tại Điều 45, Điều 46, Điều 47 Luật Du lịch năm 2017 và Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 20 Nghị định số 168/2017/NĐ-CP ngày 31/12/2017 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều của Luật Du lịch.
2. Hành khách được vận chuyển theo hợp đồng, khi đón và trả khách phải tập trung tại vị trí nhất định, các điểm dừng, đỗ đón trả khách phải đảm bảo an toàn giao thông, đúng vị trí được phép dừng, đỗ xe và phải được ghi trong hợp đồng vận chuyển khách.
3. Hành khách tập trung tại các điểm được phép dừng, đỗ để đón, trả khách phải giữ gìn an ninh trật tự xã hội và giữ vệ sinh chung.
4. Phương tiện vận tải khách du lịch có gắn biển hiệu “XE Ô TÔ VẬN TẢI KHÁCH DU LỊCH”, được phép vận tải hành khách theo hợp đồng và được ưu tiên bố trí nơi dừng đỗ thuận tiện để đón, trả khách du lịch, nhưng phải tuân thủ quy định của chính quyền địa phương theo phân cấp về tổ chức giao thông. Việc dừng đón trả khách du lịch tại các bến xe khách, khu vực nhà ga sân bay, bến thủy nội địa, khu du lịch, điểm du lịch... thì thực hiện theo quy định của tổ chức, đơn vị quản lý, khai thác sân bay, bến xe, khu du lịch đó.
5. Xe trung chuyển hành khách là loại xe có từ 16 chỗ ngồi trở xuống (kể cả người lái và phụ xe); phương tiện được Sở Giao thông vận tải cấp phù hiệu “XE TRUNG CHUYỂN”. Xe trung chuyển chỉ được sử dụng để vận chuyển hành khách đi trên các tuyến cố định của đơn vị đến bến xe, điểm đón trả khách trên tuyến hoặc ngược lại.