Điều 7. Thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh
1. Nguyên tắc thẩm định:
a) Bám đảm tính khách quan, toàn diện và khoa học.
b) Tuân lưu đúng trình tự, thủ tục, thời hạn thẩm định.
c) Chỉ thẩm định đối với những dự thảo văn bản có trong chương trình xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh do Ủy ban nhân dân tỉnh trình và có đủ hồ sơ hợp lệ theo quy định tại khoản 2 Điều này. Đối với dự thảo nghị quyết không có trong chương trình xây dựng nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thì chỉ tiến hành thẩm định khi có chỉ đạo của Ủy ban nhân dân tỉnh.
d) Bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan thẩm định với cơ quan chủ trì soạn thảo và các cơ quan, tổ chức liên quan.
2. Hồ sơ thẩm định:
Cơ quan chủ trì soạn thảo dự thảo nghị quyết có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Sở Tư pháp để thẩm định. Hồ sơ gửi thẩm định gồm:
a) Công văn đề nghị thẩm định.
b) Dự thảo tờ trình Ủy ban nhân dân tỉnh.
c) Dự thảo nghị quyết.
d) Bản tổng hợp ý kiến tham gia của các cơ quan, tổ chức, đơn vị liên quan và đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của nghị quyết, trong đó nêu rõ nội dung tham gia, ý kiến giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo trong việc tiếp thu hoặc không tiếp thu ý kiến tham gia vào dự thảo nghị quyết.
đ) Các tài liệu có liên quan.
3. Nội dung thẩm định:
Giám đốc Sở Tư pháp chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định dự thảo nghị quyết.
Nội dung thẩm định gồm:
a) Thẩm định sự cần thiết ban hành nghị quyết.
b) Thẩm định đối tượng, phạm vi điều chỉnh của nghị quyết, gồm:
- Sự phù hợp giữa đối tượng với phạm vi điều chỉnh của dự thảo nghị quyết.
- Sự phù hợp giữa đối tượng, phạm vi điều chỉnh của dự thảo nghị quyết với chính sách cơ bản và các quy định cụ thể của dự thảo nghị quyết.
c) Thẩm định sự phù hợp của nội dung dự thảo nghị quyết với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.
d) Thẩm định tính hợp hiến, tính hợp pháp của dự thảo nghị quyết theo các điều kiện quy định tại Điều 3, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật; tính thống nhất giữa các quy định trong cùng dự thảo nghị quyết và quy định của dự thảo nghị quyết với các quy định của nghị quyết hiện hành khác do Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành về cùng một vấn đề.
đ) Thẩm định ngôn ngữ, kỹ thuật soạn thảo nghị quyết, gồm các vấn đề:
- Tính hợp lý, khoa học trong bố cục của dự thảo nghị quyết.
- Việc sử dụng các thuật ngữ chuyên môn, chuyên ngành.
- Ngôn ngữ được sử dụng trong dự thảo nghị quyết.
- Tuân thủ trình tự, thủ tục soạn thảo, thể thức, kỹ thuật trình bày nghị quyết theo quy định của pháp luật.
e) Ngoài các nội dung quy định tại các điểm a, b, c, d, đ khoản này, Sở Tư pháp có thể đưa ra ý kiến về tính khả thi của dự thảo nghị quyết và nêu rõ quan điểm của cơ quan thẩm định về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau trong dự thảo nghị quyết.
4. Thời hạn thẩm định:
Thời hạn thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh là 7 (bảy) ngày làm việc, trường hợp dự thảo nghị quyết có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực, thì thời gian thẩm định có thể kéo dài nhưng không quá 15 (mười lăm) ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ quy định tại khoản 2 Điều này.
5. Báo cáo kết quả thẩm định:
Kết quả thẩm định dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh phải được thực hiện bằng văn bản. Sở Tư pháp có trách nhiệm gửi báo cáo kết quả thẩm định dự thảo nghị quyết cho cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản để tiếp thu, chỉnh lý.
6. Trách nhiệm của cơ quan thẩm định, cơ quan chủ trì soạn thảo:
a) Cơ quan thẩm định
Sở Tư pháp có trách nhiệm tổ chức thẩm định dự thảo nghị quyết theo quy định tại khoản 1, khoản 3, khoản 4 và khoản 5 Điều này.
Giám đốc Sở Tư pháp chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh về kết quả thẩm định văn bản theo quy định của pháp luật.
b) Cơ quan chủ trì soạn thảo có trách nhiệm gửi hồ sơ thẩm định theo quy định tại khoản 2 Điều này; thuyết trình, cung cấp, làm rõ các nội dung liên quan đến dự thảo văn bản theo yêu cầu của Sở Tư pháp; tiếp thu ý kiến thẩm định, chỉnh lý dự thảo nghị quyết, trường hợp không tiếp thu ý kiến thẩm định thì phải giải trình, nêu rõ lý do từng nội dung không tiếp thu.