vanban.org

Điều 5. Soạn thảo dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh — Quyết định 02/2011/QĐ-UBND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2016 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 29/07/2013 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 214/QĐ-UBND · 01/07/2016 Sửa đổi, bổ sung: 11/2013/QĐ-UBND · 19/07/2013
Tuyên Quang Ban hành 18/03/2011 Hiệu lực 28/03/2011 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · 15 năm
Quyết định số 02/2011/QĐ-UBND Về việc ban hành quy định trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân tỉnh Tuyên Quang · 02/2011/QĐ-UBND
29/07/201311/2013/QĐ-UBNDSửa đổi Đang xem 28/03/2011Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 02/2011/QĐ-UBND › Chương I › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Soạn thảo dự thảo nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh

1. Căn cứ Chương trình xây dựng nghị quyết đã được Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua, cơ quan chuyên môn đã đề nghị xây dựng nghị quyết có trách nhiệm xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện. Kế hoạch soạn thảo dự thảo nghị quyết phải nêu rõ từng nội dung công việc (tổ chức nghiên cứu, khảo sát đánh giá, xây dựng đề cương, soạn thảo dự thảo nghị quyết, lấy ý kiến tham gia, thẩm định, trình văn bản; đơn vị, cá nhân chủ trì, phối hợp; thời gian trình dự thảo nghị quyết...).

2. Trường hợp nghị quyết có nội dung phức tạp hoặc liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực, điều chỉnh những vấn đề mới phát sinh ở địa phương, cơ quan chủ trì soạn thảo nghị quyết có thể thành lập Ban soạn thảo do Thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo là trưởng ban, các thành viên là đại diện Sở Tư pháp, Hội Luật gia tỉnh và các cơ quan liên quan. Trong trường hợp cần thiết có thể mời các chuyên gia, đại diện các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội có liên quan tham gia Ban soạn thảo.

Đối với những nghị quyết có nội dung đơn giản, thuộc phạm vi quản lý của một ngành, Thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo có thể thành lập Tổ soạn thảo gồm đại diện các phòng, đơn vị liên quan của đơn vị mình hoặc giao cho cá nhân soạn thảo dự thảo nghị quyết.

Ban soạn thảo, Tổ soạn thảo văn bản tự giải thể sau khi hoàn thành nhiệm vụ quy định tại khoản 3 Điều này.

3. Nhiệm vụ của Ban soạn thảo, Tổ soạn thảo hoặc cá nhân được giao soạn thảo dự thảo nghị quyết:

a) Khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội ở địa phương liên quan đến dự thảo văn bản.

b) Tổ chức nghiên cứu chủ trương, chính sách của Đảng, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, các thông tin, tư liệu có liên quan đến dự thảo văn bản.

c) Xây dựng đề cương, biên soạn và chỉnh lý dự thảo văn bản; xác định văn bản, điều, khoản, điểm của văn bản dự kiến sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ.

d) Giúp thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo tổ chức lấy ý kiến cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan, đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản theo quy định tại Điều 23, Nghị định số 91/2006/NĐ-CP của Chính phủ; tổng hợp, nghiên cứu tiếp thu ý kiến tham gia và chỉnh lý dự thảo nghị quyết.

đ) Xây dựng tờ trình ban hành nghị quyết, trong đó nêu rõ sự cần thiết phải ban hành, quá trình xây dựng và nội dung chính của dự thảo văn bản, những vấn đề cần xin ý kiến chỉ đạo, những vấn đề còn có ý kiến khác nhau.

e) Soạn thảo văn bản đề nghị thẩm định; chuẩn bị hồ sơ dự thảo nghị quyết báo cáo thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo để lấy ý kiến thẩm định của Sở Tư pháp.

g) Tổ chức nghiên cứu, tiếp thu ý kiến thẩm định của Sở Tư pháp để chỉnh lý dự thảo nghị quyết.

4. Trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan chủ trì soạn thảo dự thảo nghị quyết:

a) Chịu trách nhiệm trước Uỷ ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh về chất lượng dự thảo nghị quyết và tiến độ soạn thảo.

b) Chỉ đạo Ban soạn thảo, Tổ soạn thảo hoặc cá nhân soạn thảo dự thảo nghị quyết thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ quy định tại khoản 3 Điều này.

c) Định kỳ báo cáo Uỷ ban nhân dân tỉnh về tiến độ xây dựng dự thảo nghị quyết và kịp thời xin ý kiến về những vấn đề còn có ý kiến khác nhau, những vấn đề phát sinh trong quá trình soạn thảo nghị quyết.

d) Lấy ý kiến tham gia, thẩm định theo quy định; chỉ đạo việc tiếp thu ý kiến tham gia, ý kiến thẩm định.

đ) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.