Điều 13. Trình tự và thủ tục tiến hành ký kết thỏa thuận quốc tế nhân danh Ủy ban nhân dân tỉnh
1. Việc ký kết thỏa thuận quốc tế nhân danh Ủy ban nhân dân tỉnh được tiến hành xuất phát từ nhu cầu hợp tác quốc tế của Ủy ban nhân dân tỉnh trong quá trình hoạt động theo thẩm quyền được giao.
Các ngành, địa phương, đơn vị có nhu cầu hợp tác phát triển hoặc đối tác nước ngoài đề nghị ký kết thỏa thuận quốc tế phải báo cáo Ủy ban nhân dân tỉnh bằng văn bản bao gồm những nội dung sau:
a) Yêu cầu, mục đích, lý do của việc ký kết thỏa thuận quốc tế, nội dung cơ bản của thỏa thuận quốc tế;
b) Dự thảo thỏa thuận quốc tế bằng tiếng Việt hoặc tiếng nước ngoài có bản dịch tiếng Việt kèm theo;
c) Đánh giá tác động của thỏa thuận quốc tế dự định ký kết về mặt chính trị, kinh tế - xã hội, tài chính và các tác động khác.
2. Sở Ngoại vụ xin ý kiến Bộ Ngoại giao, các Bộ, ngành quản lý lĩnh vực ký kết và các cơ quan có liên quan, hoàn thiện nội dung dự thảo thỏa thuận quốc tế, trình Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trực tiếp đàm phán, ký kết hoặc ủy quyền cho một người khác đàm phán, ký kết thỏa thuận quốc tế nhân danh Ủy ban nhân dân tỉnh.
4. Trong trường hợp có ý kiến khác nhau giữa các cơ quan được lấy ý kiến, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh trình Thủ tướng Chính phủ cho ý kiến về việc ký kết thỏa thuận quốc tế; ý kiến của Thủ tướng Chính phủ là cơ sở để Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định ký kết thỏa thuận quốc tế.
5. Sở Ngoại vụ có trách nhiệm tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh báo cáo Thủ tướng Chính phủ, đồng thời gửi Bộ Ngoại giao bản sao thỏa thuận quốc tế đã được ký kết để thông báo; quản lý và lưu trữ các thỏa thuận quốc tế theo các quy định hiện hành, theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các thỏa thuận quốc tế đã ký kết, hàng năm báo cáo kết quả thực hiện cho Ủy ban nhân dân tỉnh để kịp thời chỉ đạo.