Điều 4. Nguyên tắc và căn cứ xét khen thưởng
1. Khen thưởng thường xuyên: Được thực hiện vào dịp tổng kết năm công tác, trên nguyên tắc chính xác, công khai, công bằng, kịp thời, phạm vi ảnh hưởng của thành tích đến đâu khen thưởng đến đó; không trình khen nhiều lần cho một đối tượng, trong năm thi đua, ở cùng một cấp, trừ thành tích xuất sắc đột xuất. Thành tích đạt được trong điều kiện khó khăn có ảnh hưởng lớn được xem xét, đề nghị khen thưởng với mức cao hơn. Ưu tiên khen thưởng tập thể cơ sở, cá nhân trực tiếp lao động.
2. Khen thưởng theo chuyên đề:
a) Các chuyên đề do Chủ tịch UBND tỉnh phát động: Khi tổng kết các phong trào thi đua chuyên đề do Chủ tịch UBND tỉnh phát động, việc khen thưởng được thực hiện trên nguyên tắc lấy kết quả thực hiện so với chỉ tiêu kế hoạch được giao và căn cứ vào điều kiện, khả năng thực tế khi thực hiện nhiệm vụ để xét khen thưởng, đảm bảo tính chính xác, công bằng. Số lượng trình khen thưởng cấp tỉnh không quá 30 tập thể, cá nhân thực sự tiêu biểu xuất sắc được lựa chọn từ các cấp, các ngành.
b) Các chuyên đề do ngành phát động: Khi tổng kết các phong trào thi đua chuyên đề do ngành phát động, việc khen thưởng chỉ thực hiện khi: kế hoạch tổ chức phong trào thi đua có đăng ký các chỉ tiêu thi đua, hình thức khen thưởng cụ thể; hàng năm báo cáo đánh giá kết quả thực hiện, được Thường trực Hội đồng TĐKT tỉnh theo dõi, tổng hợp; tổng kết giai đoạn 03 - 05 năm; kế hoạch tổng kết được Tỉnh uỷ, UBND tỉnh phê duyệt; Đối tượng khen thưởng ưu tiên ở cơ sở và cá nhân trực tiếp lao động, sản xuất, công tác; số lượng trình khen thưởng cấp tỉnh không quá 15 tập thể, cá nhân thực sự tiêu biểu xuất sắc.
3. Khen thưởng thành tích xuất sắc đột xuất, phải là những thành tích lập được trong hoàn cảnh không được dự báo trước, diễn ra ngoài dự kiến kế hoạch công việc bình thường; có phạm vi ảnh hưởng lớn, có tác dụng nêu gương học tập trong toàn ngành, toàn tỉnh được cơ quan có thẩm quyền công nhận và đề nghị.