vanban.org

Điều 52. Xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính — Pháp lệnh số Không số Xử lý vi phạm hành chính

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/10/2002 Thay thế: 44/2002/PL-UBTVQH10 · 02/07/2002
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 06/07/1995 Hiệu lực 01/08/1995 Hết hiệu lực toàn bộ 149 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 3 đời pháp lệnh · 6 phiên bản · 36 năm
Pháp lệnh số Không số Xử lý vi phạm hành chính 1995
01/08/1995Bản gốcThay thế Đang xem
Pháp lệnh số 28-LCT/HĐNN8 Xử phạt vi phạm hành chính 1989 · 28-LCT/HĐNN8
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh Không số › Chương VI › Điều 52
Đọc toàn văn

Điều 52. Xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành chính

1. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ Nhà nước thì người ra quyết định tịch thu có trách nhiệm bảo quản tang vật, phương tiện và chuyển giao cho cơ quan tài chính cấp huyện trở lên. Cơ quan tài chính phải lập Hội đồng định giá và tổ chức bán đấu giá tang vật, phương tiện đó. Tiền thu được từ bán tang vật, phương tiện vi phạm phải nộp vào ngân sách Nhà nước qua tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước.

2. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là văn hoá phẩm độc hại, hàng giả không có giá trị sử dụng, vật phẩm gây hại cho tính mạng, sức khoẻ con người và môi trường sống thì người ra quyết định xử phạt phải lập Hội đồng xử lý để tiêu huỷ. Tuỳ thuộc vào tính chất tang vật, phương tiện, thành phần Hội đồng xử lý phải gồm đại diện cơ quan Nhà nước của người đã ra quyết định xử phạt và đại diện các cơ quan hữu quan. Việc tiêu huỷ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính phải được lập biên bản có chữ ký của các thành viên Hội đồng xử lý.

3. Đối với tang vật vi phạm hành chính là hàng hoá, vật phẩm dễ bị hư hỏng thì người ra quyết định xử phạt phải tiến hành lập biên bản và tổ chức bán ngay. Tiền thu được phải nộp vào ngân sách Nhà nước qua tài khoản mở tại Kho bạc Nhà nước.

4. Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính trừ tang vật, phương tiện quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này mà không biết rõ của ai thì người có thẩm quyền xử phạt quyết định thông báo trên các phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai; trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày thông báo, niêm yết công khai, nếu không xác định được chủ sở hữu thì người có thẩm quyền xử phạt chuyển giao cho cơ quan tài chính từ cấp huyện trở lên xử lý theo quy định tại khoản 1 Điều này.