vanban.org

Điều 23 — Pháp lệnh số Không số Tổ chức Viện kiểm sát quân sự

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 15/11/2002 Thay thế: 05/2002/PL-UBTVQH11 · 04/11/2002
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 19/04/1993 Hiệu lực 26/04/1993 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 3 đời pháp lệnh · 3 phiên bản · 36 năm
Pháp lệnh số 05/2002/PL-UBTVQH11 Tổ chức Viện kiểm sát quân sự · 05/2002/PL-UBTVQH11
Pháp lệnh số Không số Tổ chức Viện kiểm sát quân sự 1993
26/04/1993Bản gốcThay thế Đang xem
Pháp lệnh số 36-LCT/HĐNN8 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh tổ chức Viện kiểm sát quân sự 1990 · 36-LCT/HĐNN8
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh Không số › Chương II › Mục 5 › Điều 23
Đọc toàn văn

Điều 23

Khi thực hiện công tác kiểm sát việc giam, giữ, cải tạo Viện kiểm sát quân sự có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:

1- Thường kỳ và bất thường trực tiếp kiểm sát tại nhà tạm giữ, trại tạm giam, trại cải tạo;

2- Kiểm tra hồ sơ, tài liệu của cơ quan, đơn vị cùng cấp và cấp dưới có trách nhiệm giam, giữ, cải tạo; gặp, hỏi người bị giam giữ và cải tạo về việc giam, giữ, cải tạo;

3- Tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo về việc giam, giữ, cải tạo;

4- Yêu cầu cơ quan, đơn vị cùng cấp và cấp dưới quản lý nơi giam, giữ và cải tạo kiểm tra những nơi đó và thông báo kết quả cho Viện kiểm sát quân sự;

5- Yêu cầu cơ quan, đơn vị cùng cấp, cấp dưới và người có trách nhiệm thông báo tình hình giam, giữ và cải tạo trả lời về văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc giam, giữ, cải tạo;

6- Quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ, cải tạo không có căn cứ và trái pháp luật;

7- Kháng nghị với cơ quan, đơn vị cùng cấp và cấp dưới, yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ văn bản chấm dứt việc làm vi phạm pháp luật và yêu cầu xử lý người vi phạm pháp luật.