vanban.org

Điều 5 — Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH11 Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/06/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/07/2011 Thay thế: 62/2014/QH13 · 24/11/2014 Sửa đổi, bổ sung: 14/2011/UBTVQH12 · 19/02/2011
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 04/10/2002 Hiệu lực 15/10/2002 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời pháp lệnh · 3 phiên bản · 33 năm
Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH11 Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân · 02/2002/PL-UBTVQH11
01/07/201114/2011/UBTVQH12Sửa đổi Đang xem 15/10/2002Bản gốcThay thế
Pháp lệnh số Không số Về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân 1993
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh 02/2002/PL-UBTVQH11 › Chương 1 › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5

1. Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian công tác thực tiễn, có năng lực làm công tác xét xử theo quy định của Pháp lệnh này, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán.

2. Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có kiến thức pháp lý, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được bầu hoặc cử làm Hội thẩm.