vanban.org

Điều 30 — Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH11 Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/06/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/07/2011 Thay thế: 62/2014/QH13 · 24/11/2014 Sửa đổi, bổ sung: 14/2011/UBTVQH12 · 19/02/2011
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 04/10/2002 Hiệu lực 15/10/2002 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời pháp lệnh · 3 phiên bản · 33 năm
Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH11 Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân · 02/2002/PL-UBTVQH11
01/07/201114/2011/UBTVQH12Sửa đổi Đang xem 15/10/2002Bản gốcThay thế
Pháp lệnh số Không số Về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân 1993
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh 02/2002/PL-UBTVQH11 › Chương 3 › Điều 30
Đọc toàn văn

Điều 30

1. Thẩm phán đương nhiên bị mất chức danh Thẩm phán khi bị kết tội bằng bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

2. Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, Thẩm phán có thể bị cách chức chức danh Thẩm phán khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Vi phạm trong công tác xét xử, giải quyết những việc thuộc thẩm quyền của Toà án;

b) Vi phạm quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh này;

c) Bị kỷ luật bằng hình thức cách chức chức vụ quản lý đang đảm nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;

d) Vi phạm về phẩm chất đạo đức;

đ) Có hành vi vi phạm pháp luật khác.