vanban.org

Điều 10 — Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH11 Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/06/2015 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/07/2011 Thay thế: 62/2014/QH13 · 24/11/2014 Sửa đổi, bổ sung: 14/2011/UBTVQH12 · 19/02/2011
Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Ban hành 04/10/2002 Hiệu lực 15/10/2002 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời pháp lệnh · 3 phiên bản · 33 năm
Pháp lệnh số 02/2002/PL-UBTVQH11 Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân · 02/2002/PL-UBTVQH11
01/07/201114/2011/UBTVQH12Sửa đổi Đang xem 15/10/2002Bản gốcThay thế
Pháp lệnh số Không số Về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân 1993
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Pháp lệnh 02/2002/PL-UBTVQH11 › Chương 1 › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10

1. Thẩm phán, Hội thẩm phải tôn trọng nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.

Khi phát hiện hành vi trái pháp luật của Thẩm phán, Hội thẩm thì cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân có quyền yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại; cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan có thẩm quyền để xem xét trách nhiệm đối với Thẩm phán, Hội thẩm.

2. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thẩm phán, Hội thẩm có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan, tổ chức và công dân có trách nhiệm tạo điều kiện để Thẩm phán, Hội thẩm làm nhiệm vụ.

Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở Thẩm phán, Hội thẩm thực hiện nhiệm vụ.