vanban.org

Điều 5. Chế độ đãi ngộ đặc thù dành cho vận động viên, huấn luyện viên có vận động viên đạt thành tích xuất sắc — Nghị quyết 68/2026/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 10/07/2026 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
HĐND thành phố Đà Nẵng Ban hành 29/06/2026 Hiệu lực 10/07/2026 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 68/2026/NQ-HĐND › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5. Chế độ đãi ngộ đặc thù dành cho vận động viên, huấn luyện viên có vận động viên đạt thành tích xuất sắc

1. Vận động viên quy định tại điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết này đạt thành tích xuất sắc, ngoài chế độ được hưởng theo quy định được hỗ trợ thêm chế độ hằng tháng như sau:

a) Vận động viên đạt thành tích các môn thuộc hệ thống thi đấu Olympic và ASIAD (xác định theo kỳ ASIAD gần nhất) hưởng chế độ theo Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết này.

b) Vận động viên đạt thành tích các môn còn lại hưởng 50% chế độ theo Phụ lục ban hành kèm theo Nghị quyết này.

c) Vận động viên đạt thành tích trong các môn tập thể, các nội dung thi đấu có từ 10 người trở lên trong cùng một lần thi được hưởng 50% mức quy định tại điểm a, b khoản 1 Điều này.

2. Huấn luyện viên quy định tại điểm a khoản 1 Điều 2 Nghị quyết này được phân công huấn luyện hoặc trực tiếp đào tạo vận động viên lập thành tích, ngoài chế độ được hưởng theo quy định được hỗ trợ thêm chế độ hằng tháng như sau:

a) Huấn luyện viên được hưởng bằng 50% mức hưởng vận động viên.

b) Đối với các môn tập thể, các nội dung thi đấu có từ 10 người trở lên trong cùng một lần thi thì huấn luyện viên được hưởng bằng mức vận động viên quy định tại điểm c khoản 1 Điều này.

c) Số lượng huấn luyện viên được hưởng: Đối với nội dung thi đấu cá nhân thì chỉ được 01 huấn luyện viên. Đối với môn hoặc nội dung thi đấu tập thể (số lượng vận động viên tham gia thi đấu theo quy định tại Điều lệ giải), nếu có dưới 10 vận động viên tham gia thi đấu thì được 01 huấn luyện viên, có từ 10 vận động viên trở lên tham gia thi đấu thì được 02 huấn luyện viên, riêng môn bóng đá (11 người) được tính 03 huấn luyện viên.

3. Trường hợp vận động viên, huấn luyện viên quy định tại điểm a, điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết này cùng lúc đủ điều kiện hưởng nhiều chế độ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này thì chỉ được hưởng chế độ ở mức cao nhất.

Trong thời gian hưởng chế độ, nếu vận động viên, huấn luyện viên đạt thêm nhiều thành tích mới sẽ được xét duyệt hưởng chế độ với thành tích cao nhất. Hết thời gian hưởng chế độ cao nhất nếu còn thời gian hưởng cho việc đạt thành tích tại các giải khác, vận động viên, huấn luyện viên tiếp tục được hưởng chế độ đối với giải khác theo nguyên tắc chọn thành tích cao nhất.

4. Thời gian tính hưởng chế độ: Thành tích của năm trước được bắt đầu tính hưởng từ tháng 01 (một) của năm sau.

5. Vận động viên, huấn luyện viên được hưởng chế độ quy định tại Điều này khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Vận động viên, huấn luyện viên sau khi đạt thành tích vẫn còn phục vụ cho ngành thể dục, thể thao thành phố.

b) Vận động viên, huấn luyện viên nghỉ thi đấu do chấn thương (chấn thương trong khi thực hiện nhiệm vụ) có xác nhận của cơ quan y tế có thẩm quyền.

c) Vận động viên hoàn thành nhiệm vụ (kết thúc sự nghiệp thi đấu) và được cơ quan trực tiếp sử dụng vận động viên xác nhận.

6. Trong thời gian hưởng chế độ quy định tại Điều này, trường hợp vận động viên, huấn luyện viên tham gia huấn luyện, tập luyện và thi đấu cho đơn vị khác thì sẽ không được hưởng chế độ ngay tại thời điểm vận động viên, huấn luyện viên ký hợp đồng đào tạo, huấn luyện hoặc thi đấu cho đơn vị khác.