Điều 5. Xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước
1. Việc xác định bí mật nhà nước và độ mật của bí mật nhà nước của HĐND tỉnh phải căn cứ vào Điều 10 Luật Bảo vệ bí mật nhà nước, Điều 2 Nghị định số 26/2020/NĐ-CP ngày 28/02/2020 của Chính phủ quy định chi tiết Luật Bảo vệ bí mật nhà nước và danh mục bí mật nhà nước do Thủ tướng Chính phủ ban hành.
2. Chủ tịch HĐND tỉnh (hoặc cấp phó được ủy quyền bằng văn bản) xác định bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước của HĐND tỉnh hoặc thông tin thuộc danh mục bảo vệ bí mật nhà nước được tiếp nhận từ các cá nhân, tổ chức khác nhưng chưa được xác định là bí mật nhà nước để quản lý, bảo vệ theo quy định. Trường hợp sử dụng bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức khác thì phải xác định độ mật tương ứng. Trường hợp thông tin trong cùng một tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước thuộc danh mục bí mật nhà nước có độ mật khác nhau thì xác định theo độ mật cao nhất.
3. Người soạn thảo, tạo ra thông tin, tài liệu có nội dung thuộc danh mục bí mật nhà nước phải đề xuất người có thẩm quyền tại khoản 2 Điều này xác định bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước tại tờ trình, phiếu trình duyệt độ mật của văn bản có đầy đủ các nội dung: Tên, trích yếu tài liệu; tên người soạn thảo; đề xuất độ mật, căn cứ đề xuất (ghi rõ căn cứ điều, khoản, điểm); số lượng bản phát hành (bao gồm cả bản gốc); phạm vi lưu hành; được phép hoặc không được phép sao, chụp. Người duyệt, ký văn bản chịu trách nhiệm việc xác định độ mật của bí mật nhà nước.
Dự thảo văn bản có nội dung bí mật nhà nước phải được quản lý, bảo vệ như văn bản ban hành chính thức từ khi soạn thảo và tiêu hủy ngay sau khi hoàn thành việc soạn thảo nếu thấy không cần thiết phải lưu trữ; khi tổ chức lấy ý kiến về dự thảo có nội dung bí mật nhà nước, cơ quan soạn thảo phải xác định độ mật, phạm vi lưu hành hoặc đóng dấu “Tài liệu thu hồi” vào dự thảo để cơ quan góp ý bảo quản như văn bản chính thức. Trường hợp văn bản triển khai có sao, gửi kèm theo văn bản có nội dung bí mật nhà nước thì văn bản triển khai phải xác định độ mật tương ứng với văn bản gửi kèm theo.
4. Người tiếp nhận thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước, nhưng chưa được xác định là bí mật nhà nước phải báo cáo người đứng đầu cơ quan và chuyển đến cá nhân có chức năng xử lý. Người được giao xử lý phải có văn bản đề xuất người đứng đầu cơ quan xác định bí mật nhà nước, độ mật của bí mật nhà nước, nơi nhận, số lượng bản phát hành, được phép hoặc không được phép sao, chụp tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước. Thông tin tiếp nhận phải được bảo vệ trong quá trình tiếp nhận và xử lý.
5. Đối với vật, địa điểm, lời nói, hoạt động hoặc hình thức khác chứa bí mật nhà nước mà không thể đóng dấu độ mật được thì cơ quan chịu trách nhiệm về phát ngôn (lời nói), phải có văn bản xác định độ mật của vật, địa điểm, lời nói, hoạt động hoặc hình thức khác chứa bí mật nhà nước theo mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư số 24/2020/TT-BCA ngày 10 tháng 3 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ Công an ban hành biểu mẫu sử dụng trong công tác bảo vệ bí mật nhà nước.