Điều 8. Đối với các năm trong thời kỳ ổn định ngân sách
1. Các chế độ chính sách đã tính năm đầu thời kỳ ổn định ngân sách, không thay đổi kinh phí (do tăng mức, mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách) các huyện, thành phố chủ động bố trí ngân sách địa phương để thực hiện; trường hợp có thừa thiếu kinh phí so với mức đã bố trí năm đầu thời kỳ ổn định, các địa phương có báo cáo kết quả thực hiện để các ngành có liên quan xem xét trình cấp có thẩm quyền quyết định.
2. Các chính sách (kinh phí miễn, giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập theo Nghị định số 86/2015/NĐ-CP, hỗ trợ tiền điện hộ nghèo, hộ chính sách xã hội, kinh phí mua thẻ bảo hiểm y tế cho đối tượng hộ gia đình cận nghèo, người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp có mức sống trung bình) căn cứ đối tượng thực tế, bổ sung có mục tiêu từ ngân sách tỉnh cho các địa phương theo quy định.
3. Khi có đơn vị hành chính mới được thành lập trực thuộc tỉnh theo Nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, mức hỗ trợ như sau:
a) Đối với thành phố, thị xã mới thành lập được hỗ trợ 17.000 triệu đồng/đơn vị/năm.
b) Đối với huyện mới thành lập: thuộc vùng cao hỗ trợ 17.000 triệu đồng/đơn vị/năm; thuộc miền núi - vùng đồng bào dân tộc ở đồng bằng, vùng sâu được hỗ trợ 13.600 triệu đồng/đơn vị/năm; huyện thuộc vùng còn lại được hỗ trợ 10.200 triệu đồng/đơn vị/năm.
Đối với xã, phường, thị trấn mới thành lập: thuộc vùng cao được hỗ trợ 3.400 triệu đồng/đơn vị/năm; thuộc miền núi - vùng đồng bào dân tộc ở đồng bằng, vùng sâu được hỗ trợ 2.720 triệu đồng/đơn vị/năm; xã, phường, thị trấn thuộc vùng còn lại được hỗ trợ 2.380 triệu đồng/đơn vị/năm./.
CHỦ TỊCH
(Đã ký)
Bùi Văn Hải