Điều 10. Mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ
1. Việc mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước ra khỏi nơi lưu giữ (phục vụ công tác trong nước và ngoài nước) thực hiện theo quy định tại Điều 14 Luật số 117/2025/QH15 và Điều 7 Nghị định 63/2026/NĐ-CP của Chính phủ.
2. Mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đi công tác ở trong và ngoài nước đối với tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước đã được nộp vào lưu trữ của cơ quan được quy định như sau:
a) Mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phục vụ công tác ở trong nước: việc khai thác, mượn tài liệu để phục vụ công tác phải được sự đồng ý của Chánh Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân tỉnh; việc giao nhận, mượn, trả được theo dõi, xác nhận bằng hình thức phù hợp bảo đảm theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước.
b) Mang tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước phục vụ công tác ở nước ngoài phải được Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh cho phép bằng văn bản và báo cáo Trưởng Đoàn công tác (nếu có).
3. Đối với tài liệu, vật chứa bí mật nhà nước do cá nhân được giao quản lý, sử dụng (văn bản bí mật nhà nước đến gửi đích danh; bản chính, bản sao văn bản bí mật nhà nước đi được gửi đến cá nhân; văn bản, bí mật nhà nước được giao xử lý và tài liệu khác có liên quan) mà chưa nộp lưu vào lưu trữ cơ quan, cá nhân được giao quản lý, sử dụng có trách nhiệm quản lý chặt chẽ, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin trong quá trình sử dụng, lưu giữ phục vụ công tác; trường hợp mang ra nước ngoài thực hiện theo quy định của pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước và Quy chế này.