vanban.org

Điều 49: Căn cứ vào chương trình giám sát của Ban; qua giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc được Thường trực Hội đồng nhân dân giao, các Ban của Hội đồng nhân dân tổ chức Đoàn giám sát của Ban. — Nghị quyết 188/2004/NQ-HĐND

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 19/12/2011 Thay thế: 296/2011/NQ-HĐND · 09/12/2011
Hưng Yên Ban hành 17/12/2004 Hiệu lực 17/12/2004 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị quyết · 2 phiên bản · 21 năm
Nghị quyết số 296/2011/NQ-HĐND Ban hành Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XV, nhiệm kỳ 2011 – 2016 · 296/2011/NQ-HĐND
Nghị quyết số 188/2004/NQ-HĐND Về việc ban hành Quy chế hoạt động của HĐND tỉnh khóa XIV, nhiệm kỳ 2004-2009 · 188/2004/NQ-HĐND
17/12/2004Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị quyết 188/2004/NQ-HĐND › Chương VI › Điều 49
Đọc toàn văn

Điều 49: Căn cứ vào chương trình giám sát của Ban; qua giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; qua các phương tiện thông tin đại chúng hoặc được Thường trực Hội đồng nhân dân giao, các Ban của Hội đồng nhân dân tổ chức Đoàn giám sát của Ban.

Đoàn giám sát của Ban có nhiệm vụ, quyền hạn sau:

1. Thực hiện đúng nội dung, kế hoạch giám sát và thẩm quyền, trình tự, thủ tục giám sát theo quy định của pháp luật.

2. Mời đại diện Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, các tổ chức thành viên của Mặt trận và yêu cầu đại diện cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia giám sát.

3. Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin, tài liệu cần thiết có liên quan đến nội dung giám sát, giải trình những vấn đề mà Đoàn giám sát quan tâm.

4. Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, Đoàn giám sát yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp để chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, xử lý người vi phạm, khôi phục lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm.

5. Chậm nhất là năm ngày, kể từ ngày kết thúc hoạt động giám sát, Đoàn giám sát phải báo cáo kết quả giám sát với Ban.

Báo cáo kết quả giám sát phải nêu rõ tình hình chấp hành pháp luật, những việc đã làm được, chưa làm được hoặc những vi  phạm pháp luật và các kiến nghị qua hoạt động giám sát.

6. Chậm nhất là mười ngày kể từ ngày kết thúc cuộc giám sát, Trưởng ban tổ chức phiên họp Ban để thảo luận, xem xét về báo cáo của Đoàn giám sát theo trình tự sau:

- Trưởng đoàn giám sát trình bày báo cáo kết quả giám sát.

- Đại diện cơ quan, tổ chức được mời tham dự phiên họp phát biểu ý kiến.

- Các thành viên trong Ban thảo luận về báo cáo của Đoàn giám sát.

- Chủ tọa phiên họp kết luận. Ban biểu quyết khi xét thấy cần thiết.

- Trên cơ sở ý kiến của các thành viên Ban, Trưởng Ban có trách nhiệm lập báo cáo kết luận về kết quả giám sát của Ban gửi đến Thường trực Hội đồng nhân dân  tỉnh và cơ quan, tổ chức hữu quan, cá nhân, đơn vị chịu sự giám sát. Trong báo cáo phải nêu rõ kiến nghị và các biện pháp cần thiết.

- Theo dõi, đôn đốc việc giải quyết các kiến nghị giám sát của các cơ quan hữu quan.