Điều 3. Nguyên tắc, tiêu chí phân bổ dự toán chi thường xuyên ngân sách nhà nước
1. Góp phần thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh; ưu tiên bố trí kinh phí cho những lĩnh vực quan trọng và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi đặc biệt khó khăn, khó khăn, biên giới, hải đảo.
2. Phù hợp với khả năng cân đối ngân sách nhà nước của Kế hoạch tài chính quốc gia và vay, trả nợ công 05 năm giai đoạn 2026 - 2030 đã được Quốc hội quyết định tại Nghị quyết số 26/2026/QH16 ngày 24 tháng 4 năm 2026.
Ưu tiên nguồn lực để thực hiện các Nghị quyết của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân; phát triển văn hóa Việt Nam; hội nhập quốc tế trong tình hình mới, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; tiếp tục cải cách chính sách tiền lương, các chính sách an sinh xã hội. Nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng giảm tỷ trọng chi thường xuyên gắn với sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, phát huy tính chủ động, tự lực, tự cường của các cấp, đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của từng Bộ, cơ quan trung ương và địa phương.
3. Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; cải cách hành chính; góp phần đổi mới quản lý tài chính đối với khu vực sự nghiệp công để giảm mức hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách nhà nước cho đơn vị sự nghiệp công lập, tăng nguồn bảo đảm chính sách hỗ trợ người nghèo, đối tượng chính sách tiếp cận các dịch vụ sự nghiệp công, khuyến khích xã hội hóa, huy động các nguồn lực xã hội để phát triển kinh tế - xã hội.
4. Tiêu chí phân bổ ngân sách rõ ràng, đơn giản, thuận lợi trong thực hiện và kiểm tra, giám sát; bảo đảm công bằng, công khai, minh bạch; tăng cường tính chủ động trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ gắn với chính sách, chế độ chi ngân sách nhà nước.
5. Đưa tối đa các khoản chi thường xuyên vào định mức chi quản lý hành chính của các Bộ, cơ quan trung ương gắn với triệt để tiết kiệm và chống lãng phí, giảm các khoản chi hội nghị, hội thảo, đi công tác trong và ngoài nước. Ưu tiên mức phân bổ kinh phí theo tiêu chí biên chế cho khối các cơ quan Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Kiểm toán nhà nước và Thanh tra Chính phủ.
Các Bộ, cơ quan trung ương căn cứ định mức quy định tại Nghị quyết này ban hành định mức phân bổ dự toán chi ngân sách cho các đơn vị trực thuộc để làm căn cứ lập, xây dựng, phân bổ, giao dự toán hằng năm, phù hợp với đặc điểm thực tế và nguồn thu của từng đơn vị trực thuộc, thực hiện công khai, minh bạch và đúng các quy định của pháp luật.
6. Định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên của ngân sách địa phương phải tuân thủ thêm các nguyên tắc, tiêu chí sau đây:
a) Tiêu chí dân số là tiêu chí chính được chia thành 04 vùng: Vùng đặc biệt khó khăn, vùng khó khăn, vùng đô thị và vùng khác còn lại; các tiêu chí bổ sung phù hợp với từng lĩnh vực quy định tại Điều 5 của Nghị quyết này;
b) Định mức phân bổ được xây dựng cho các lĩnh vực chi theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước, bảo đảm kinh phí chi tiền lương, tiền thưởng, phụ cấp, các khoản đóng góp theo chế độ theo mức lương cơ sở 2.530.000 đồng/tháng, kinh phí hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và kinh phí thực hiện các chính sách, chế độ được ban hành đến thời điểm Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết này (chưa bao gồm kinh phí phát sinh tăng thêm để thực hiện các chính sách theo tiêu chí chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026 - 2030; kinh phí thực hiện các chính sách: miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo; hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở ở các xã biên giới đất liền; phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi; hỗ trợ đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện; hỗ trợ học sinh trường phổ thông nội trú và trường phổ thông nội trú tại các xã biên giới đất liền);
c) Trong phạm vi khả năng cân đối, ngân sách trung ương hỗ trợ các địa phương kinh phí thực hiện các chính sách chưa tính trong định mức quy định tại điểm b khoản này và các chính sách, chế độ mới được ban hành sau thời điểm Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết này theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước;
d) Trường hợp dự toán chi thường xuyên của lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề, dự toán chi thường xuyên (không bao gồm lĩnh vực giáo dục, đào tạo và dạy nghề và lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số) của từng địa phương tính theo định mức quy định tại điểm b khoản này thấp hơn dự toán năm 2026 (đã tính đủ kinh phí chi ngân sách nhà nước thực hiện các chế độ, chính sách theo quy định), được ngân sách trung ương hỗ trợ để bảo đảm không thấp hơn;
đ) Định mức phân bổ chi thường xuyên ngân sách địa phương quy định tại Nghị quyết này chỉ sử dụng để xác định tổng dự toán chi thường xuyên năm 2027, trong đó chi tiết sự nghiệp giáo dục, đào tạo và dạy nghề, sự nghiệp khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm căn cứ để Chính phủ xây dựng phương án phân bổ chi tiết báo cáo Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ giao theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước.