Điều 89. Xác định giá trị tài sản do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chuyển giao không bồi hoàn cho Nhà nước Việt Nam
1. Đối với tài sản xử lý theo hình thức bán:
a) Việc xác định giá trị tài sản được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 83 Nghị định này.
b) Đối với tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất: Đơn vị chủ trì quản lý tài sản có trách nhiệm lập hồ sơ đề nghị xác định giá khởi điểm bán đấu giá đối với tài sản là quyền sử dụng đất gửi cơ quan chuyên môn về nông nghiệp và môi trường (cơ quan có chức năng quản lý đất đai ở địa phương) (tại địa phương nơi có tài sản là quyền sử dụng đất) để xác định giá đất theo quy định của pháp luật về đất đai để xác định giá khởi điểm bán đấu giá; trên cơ sở đó đơn vị chủ trì quản lý tài sản trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trong trường hợp tài sản chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam thông qua chính quyền địa phương), Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan khác ở trung ương (trong trường hợp tài sản chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam thông qua bộ, cơ quan trung ương) phê duyệt giá trị tài sản đối với tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
c) Thủ trưởng đơn vị chủ trì quản lý tài sản phê duyệt giá trị tài sản đối với tài sản không thuộc phạm vi quy định tại điểm b khoản này và giá bán trực tiếp tài sản.
2. Đối với tài sản xử lý theo hình thức giao, điều chuyển cho cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý, sử dụng thì giá trị tài sản để lập, trình cơ quan, người có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án xử lý tài sản là giá trị tài sản theo dõi trên sổ kế toán của doanh nghiệp có tài sản chuyển giao; trường hợp tài sản chưa được theo dõi trên sổ kế toán của doanh nghiệp chuyển giao thì việc xác định giá trị tài sản được thực hiện theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này hoặc thành lập Hội đồng xác định giá để xác định giá trị tài sản. Trường hợp thành lập Hội đồng xác định giá thì thành phần Hội đồng gồm: Thủ trưởng đơn vị chủ trì quản lý tài sản hoặc người được ủy quyền làm Chủ tịch; các thành viên khác gồm: đại diện các bộ phận chuyên môn liên quan của đơn vị chủ trì quản lý tài sản; đại diện Sở Tài chính nơi có tài sản xử lý (trong trường hợp đơn vị chủ trì quản lý tài sản không phải là Sở Tài chính hoặc tài sản chuyển giao cho Nhà nước Việt Nam thông qua bộ, cơ quan trung ương); đại diện các cơ quan khác có liên quan.
3. Đối với tài sản được xử lý theo hình thức chuyển giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành để quản lý, xử lý thì giá trị tài sản để lập, trình cơ quan, người có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án xử lý tài sản là giá trị tài sản theo dõi trên sổ kế toán của doanh nghiệp có tài sản chuyển giao; trường hợp tài sản chưa được theo dõi trên sổ kế toán của doanh nghiệp chuyển giao thì không phải xác định giá trị tài sản.
4. Đối với tài sản được xử lý theo hình thức giao hoặc điều chuyển cho đối tượng được giao quản lý đối với tài sản kết cấu hạ tầng thì giá trị tài sản để lập, trình cơ quan, người có thẩm quyền quyết định phê duyệt phương án xử lý tài sản là giá trị tài sản theo dõi trên sổ kế toán của doanh nghiệp có tài sản chuyển giao; trường hợp tài sản chưa được theo dõi trên sổ kế toán của doanh nghiệp chuyển giao thì đơn vị chủ trì quản lý tài sản thuê doanh nghiệp thẩm định giá hoặc thành lập Hội đồng để xác định giá trị tài sản để lập, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án xử lý tài sản.
Trường hợp thành lập Hội đồng xác định giá trị tài sản thì thành phần Hội đồng thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều này.