vanban.org

Điều 26. Bổ nhiệm lại đối với Chấp hành viên — Nghị định 50/2005/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/11/2009 Thay thế: 74/2009/NĐ-CP · 09/09/2009
Chính phủ Ban hành 11/04/2005 Hiệu lực 03/05/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời nghị định · 11 phiên bản · 36 năm
Nghị định số 62/2015/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự · 62/2015/NĐ-CP
Nghị định số 74/2009/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thi hành án dân sự về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và công chức làm công tác thi hành án dân sự · 74/2009/NĐ-CP
Nghị định số 50/2005/NĐ-CP Về cơ quan quản lý thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và cán bộ, công chức làm công tác thi hành án dân sự · 50/2005/NĐ-CP
03/05/2005Bản gốcThay thế Đang xem
Nghị định số 30-CP Về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý công tác thi hành án dân sự, cơ quan thi hành án dân sự và chấp hành viên 1993 · 30-CP
Nghị định số 68-HĐBT Ban hành Quy chế chấp hành viên 1990 · 68-HĐBT
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 50/2005/NĐ-CP › Chương IV › Mục 1 › Điều 26
Đọc toàn văn

Điều 26. Bổ nhiệm lại đối với Chấp hành viên

1. Bổ nhiệm lại đối với Chấp hành viên được bổ nhiệm trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 được xác định như sau:

a) Các trường hợp đã làm Chấp hành viên từ năm năm trở lên nhưng không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều này phải được xem xét để bổ nhiệm lại theo quy định của Pháp lệnh Thi hành án dân sự và của Nghị định này. Việc bổ nhiệm lại đối với các trường hợp nêu trên được thực hiện kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực pháp luật. Trong trường hợp vì lý do khách quan mà sau ngày Nghị định này có hiệu lực, các cơ quan chức năng vẫn chưa xem xét để bổ nhiệm lại thì Chấp hành viên tiếp tục làm nhiệm vụ cũ cho đến khi có quyết định mới của cơ quan có thẩm quyền nhưng tối đa là đến ngày 30 tháng 6 năm 2005. Kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2005, nếu các trường hợp nêu trên không được xem xét để bổ nhiệm lại theo quy định mới thì phải chuyển sang làm nhiệm vụ khác, trừ trường hợp thật sự đặc biệt mà các cơ quan chức năng vẫn chưa thể xem xét để làm thủ tục bổ nhiệm lại và không phải do lỗi của Chấp hành viên thì người đó vẫn tiếp tục được làm nhiệm vụ cũ nhưng phải có sự đồng ý của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;

b) Các trường hợp tuy đã được bổ nhiệm Chấp hành viên từ năm năm trở lên, nhưng không còn đủ tuổi để bổ nhiệm lại thêm một nhiệm kỳ nữa, nếu vẫn còn sức khỏe và có đủ các tiêu chuẩn của chức danh đang đảm nhiệm thì không phải xem xét bổ nhiệm lại mà tiếp tục giữ nguyên chức danh cũ cho đến khi đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định.

2. Việc áp dụng tiêu chuẩn Chấp hành viên khi xem xét bổ nhiệm lại đối với Chấp hành viên thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này như sau:

a) Các trường hợp được xem xét để bổ nhiệm lại chức danh Chấp hành viên cũng phải có tiêu chuẩn quy định tại Điều 13 của Pháp lệnh Thi hành án dân sự nhưng không nhất thiết đòi hỏi phải có tiêu chuẩn có chứng chỉ đào tạo về nghiệp vụ thi hành án;

b) Đối với trường hợp khi xem xét bổ nhiệm lại mà chưa có trình độ cử nhân luật thì vẫn xem xét để tuyển chọn bổ nhiệm chức danh Chấp hành viên nhưng trong nhiệm kỳ mới phải học tập để có trình độ cử nhân luật. Kể từ nhiệm kỳ tiếp theo những Chấp hành viên này nếu không có trình độ cử nhân luật thì coi là không đủ tiêu chuẩn và không được xem xét để tuyển chọn và bổ nhiệm lại chức danh Chấp hành viên.